Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 86/2024/HSST

Ngày: 06/9/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hải

Bà Trần Thị Chín

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Duy Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 82/2024/HSST ngày 21 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2024/QĐXXST–HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn H, sinh năm 1982, tại tỉnh Thanh Hóa

Nơi cư trú: Thôn F, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị H1; Bị cáo có vợ và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/5/2024 cho đến nay. (Có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trịnh Văn C, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Thôn H, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.

- Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Bá B, sinh năm 1988.
  2. Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

  3. Anh Doanh Đức T1, sinh năm 2004.
  4. Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

  5. Anh Điểu L, sinh năm 2003.
  6. Địa chỉ: Thôn E, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

  7. Anh Nông Công V, sinh năm 2001.
  8. Địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

  9. Anh Phạm Văn Hoàng L1, sinh năm 2008.
  10. Địa chỉ: Thôn F, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.

  11. Chị Vi Thị Hoa V1, sinh năm 1984.
  12. Địa chỉ: Thôn F, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.

(Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ ngày 28 tháng 5 năm 2024, tổ công tác của Công an xã Đ huyện B, tỉnh Bình Phước thực hiện theo kế hoạch số 10 ngày 05 tháng 02 năm 2024 về việc tuần tra bảo đảm trật tự an toàn giao thông và trật tự an toàn xã hội trên các tuyến đường do xã Đ quản lý. Tổ Công tác có 06 đồng chí, gồm Đồng chí: Nguyễn Văn T2 - Trưởng Công an xã Đ làm tổ trưởng; đồng chí Trịnh Văn C, Nguyễn Bá B, Doanh Đức T1, Điểu L, Nông C là tổ viên. Lúc này, tổ công tác đang đi tuần tra trên đoạn đường thuộc thôn A, xã Đ hướng về hướng “Cầu mới” thuộc thôn F xã Đ thì phát hiện Phạm Văn H đang điều khiển xe mô tô biển số 93L1-205.59 đi một mình không đội mũ bảo hiểm, đi ngược chiều với tổ công tác, nên đồng chí Trịnh Văn C đã dùng gậy chỉ huy điều khiển giao thông và còi thổi yêu cầu H dừng xe, nhưng H không chấp hành hiệu lệnh mà tăng ga bỏ chạy về hướng xã B. Lúc này, tổ công tác quay xe lại truy đuổi tiếp tục yêu cầu H dừng xe, nhưng H không chấp hành mà tiếp tục tăng ga bỏ chạy. Quá trình bỏ chạy, H dùng tay phải điều khiển xe mô tô, còn tay trái lấy nón bảo hiểm treo ở phía dưới xe đội lên đầu. Khi H điều khiển xe đi đến địa phận của xã B, huyện B thì đồng chí Nguyễn Văn T2 đã đề nghị Công an xã B hỗ trợ phối hợp để dừng xe H. H chạy xe vào nhà, tại thôn F, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước. Đồng chí C chạy tới yêu cầu H xuống xe chấp hành hiệu lệnh kiểm tra, nhưng H vẫn không chấp hành mà chửi bới đồng chí C và tổ công tác. Tiếp đó, H mở cửa cổng nhà ra ngồi lên xe mô tô tăng ga tông vào người đồng chí C, làm đồng chí C ngã, rồi H ra đóng cửa cổng lại để không cho tổ công tác đưa xe mô tô đi. Thấy vậy đồng chí C yêu cầu H chấp hành không chống đối, nhưng H không chấp hành mà tiếp tục chửi bới và đẩy ngã đồng chỉ C xuống đất rồi dùng tay phải đánh vào mặt và đầu đồng chí C. Lúc này, lực lượng Công an xã B đến lập biên bản, bắt giữ người phạm tội quả tang, đưa H về cơ quan Công an xã B làm việc. Sau đó, chuyển giao H cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện B điều tra, xử lý theo luật định.

- Tại Kết luận giám định số 223/KLTTCT-TTPY ngày 12/6/2024 của Trung tâm pháp tỉnh B, kết luận tại thời điểm giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể Trịnh Văn C là 01%.

- Về vật chứng vụ án: Chuyển 01 xe mô tô Honda, loại Super Dream, số khung RLHHA08033Y583013, số máy HA08E0582923, 01 cây rựa dài 76CM lưỡi bằng kim loại, cán bằng tre đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng để phục vụ công tác truy tố, xét xử.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo tác động gia đình tự nguyện bồi thường 20.000.000 đồng cho anh Trịnh Văn C.

Tại Bản Cáo trạng số: 87/CT –VKS.BĐ ngày 21/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Phạm Văn H về “Tội chống người thi hành công vụ” theo Khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, vì vậy Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm “Tội chống người thi hành công vụ”;

Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 330; điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 03 tháng 12 ngày đến 04 tháng tù.

Về vật chứng vụ án, đề nghị tuyên trả lại cho bị cáo Phạm Văn H 01 xe Mô tô biển số 93L1-205.59 dung tích 97cm³, màu nâu, số khung RLHHA08033V583013 số máy HA08E0582923 và 01 cây rựa dài 76cm lưỡi bằng kim loại, cán bằng tre vì các vật chứng trên không phải phương tiện, công cụ bị cáo sử dụng vào việc pham tội.

Về án phí, đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo luật định.

Bị cáo Phạm Văn H thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, rất ăn năn hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 28/5/2024, Phạm Văn H điều khiển xe Mô tô biển kiểm soát 93L1 – 205.59 không đội mũ bảo hiểm, không chấp hành dừng xe để kiểm tra của Tổ công tác Công an xã Đ, huyện B mà điều khiển xe bỏ chạy về nhà tại thôn F, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước. Khi về đến nhà, H mở cửa cổng nhà ra ngồi lên xe mô tô, lúc này xe mô tô vẫn đang nổ máy, đồng chí C đang đứng phía trước về bên phải đầu xe của H dùng tay giữ đầu xe, H vẫn tăng ga để chạy xe vào sân, xe mô tô do H điều khiển đẩy đồng chí C vào đến bậc tam cấp nhà H thì dừng lại. Tiếp theo H quay ra đóng cửa cổng lại để không cho tổ công tác đưa xe mô tô đi, đồng chí giữ H lại nên H dùng tay đẩy đồng chí C vướng vào xe mô tô của H bị ngã ngồi xuống sân. Sau khi đứng dậy đồng chí C tiếp tục giữ H lại thì H dùng tay đánh vào mặt và người đồng chí C nhằm mục đích cản trở không cho tổ công tác đưa xe mô tô của bị cáo về Công an xã B để lập biên bản vi phạm.

Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Phạm Văn H đã phạm vào “Tội chống người thi hành công” vụ qui định tại Khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 330. Chống người thi hành công vụ, quy định:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Như vậy, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động giữ gìn an ninh trật tự của cơ quan nhà nước được pháp luật bảo vệ; hành vi của bị cáo còn ảnh hưởng đến sức khỏe của người thực thi công vụ và còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự trị an tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, do thái độ thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả thiệt hại sức khỏe cho người thi hành công vụ; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là lao động chính trong gia đình, có con còn nhỏ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Sau khi cân nhắc mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại Khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[5] Về vật chứng vụ án: Qúa trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tạm giữ của bị cáo Phạm Văn H 01 xe Mô tô biển số 93L1-205.59 dung tích 97cm³, màu nâu, số khung RLHHA08033V583013 số máy HA08E0582923 và 01 cây rựa dài 76cm lưỡi bằng kim loại, cán bằng tre.

Xét thấy, các vật chứng trên không phải phương tiện, công cụ bị cáo sử dụng vào việc pham tội, đồng thời xe mô tô là tài sản chung của bị cáo và vợ bị cáo, là phương tiện phục vụ nhu cầu đi lại thiết yếu của gia đình, nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị tuyên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu gì.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm Tội chống người thi hành công vụ.
  2. Áp dụng khoản 1Điều 330, điểm b, i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

    xử phạt bị cáo Phạm Văn H 04 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/5/2024.

  3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015.
  4. Trả lại cho bị cáo Phạm Văn H 01 xe mô tô biển số 93L1-205.59 dung tích 97cm³, màu nâu, số khung RLHHA08033V583013, số máy HA08E0582923 và 01 cây rựa dài 76cm lưỡi bằng kim loại, cán bằng tre.

    (Theo biên bản giao, nhận vật chứng số 0010170 ngày 27/8/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B).

  5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  6. Buộc bị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Công an tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Bù Đăng;
  • - CCTHADS huyện Bù Đăng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hs.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Văn Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2024/HSST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự sơ thẩm (tội chống người thi hành công vụ)

  • Số bản án: 86/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội chống người thi hành công vụ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Hùng phạm Tội chống người thi hành công vụ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger