TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 86/2024/HSST | |
Ngày: 05 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Kiệt.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Trãi;
- Bà Bùi Thanh Hà.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Dũng, Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân quận Ô Môn.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Quốc – Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 05 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, Thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2024/HSST ngày 10 - 10 - 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST - HS ngày 17 - 10 - 2024, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thị T, sinh ngày 01/01/1982. Giới tính: Nữ.
Nơi sinh: Hậu Giang.
ĐKHKTT: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Chỗ ở: Khu vực L, phường T, quận T, TP ..
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Không;
Con ông Nguyễn Văn M (chết) và bà Lâm Thị V, sinh năm 1956 (sống);
C sống như vợ chồng với Trịnh Thái Q, sinh năm 1982 (bị cáo cùng vụ án);
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Nhà tạm giữ Công an quận T, TP ..
(có mặt tại phiên tòa).
2. Trịnh Thái Q, sinh ngày 20/12/1982. Giới tính: Nam.
Nơi sinh: Cần Thơ.
ĐKHKTT: Khu vực L, phường T, quận T, TP ..
Chỗ ở: Khu vực L, phường T, quận T, TP ..
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Không;
Con ông Trịnh Văn N (chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960 (sống);
Sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thị T (bị cáo trong cùng vụ án).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Nhà tạm giữ Công an quận T, TP ..
(có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Bà Trần Thị T1, sinh năm 1961.
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, TP ..
(Có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 2006.
Địa chỉ: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
(Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bản cáo trạng số 86/CT-VKS-OM ngày 09/9/2024, của Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn truy tố các bị cáo Nguyễn Thị T và Trịnh Thái Q về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự:
Trịnh Thái Q và Nguyễn Thị T sinh sống với nhau như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn từ năm 2021 cho đến nay tại khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Do không có tiền nên Q và T bàn bạc, thống nhất với nhau đi giật vé số của người khác đem đi bán lại để kiếm tiền tiêu xài. Sáng ngày 07/5/2024 Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nâu, biển số: 65H7 – 3674 chở T đi từ nhà về hướng quận Ô để tìm người bán vé số, khi cả hai đi đến phường T thì quay xe chạy ngược lại về hướng T. Khi đến khu vực T, phường L, quận Ô, thành phố Cần Thơ thì phát hiện bà Trần Thị T1 chạy xe đạp cùng chiều đi bán vé số. Lúc này, Q điều khiển xe theo kêu bà T1 dừng xe lại để giả vờ mua vé số nhưng bà T1 không nghe nên không dừng lại. Q chạy xe theo áp sát để T ngồi sau dùng tay phải giật lấy 176 tờ vé số bà T1 đang cầm trên tay. Sau khi Thanh giật được vé số, Q điều khiển xe chở T chạy vào hướng xã T, huyện C và đem đi bán cho người mua ven đường (Bút lục số 34 - 41).
Đến ngày 20/5/2024 Q và T tiếp tục cướp giật vé số trên địa bàn quận T thì bị Công an quận T, thành phố Cần Thơ bắt giữ.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 78 ngày 09/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Ô kết luận: 176 tờ vé số kiến thiết theo kết quả xổ số đài Bạc Liêu mở thưởng ngày 07/5/2024 loại mệnh giá 10.000 đồng/tờ có giá trị là 1.670.000 đồng (Bút lục số 16 – 23).
Về phần dân sự: bị hại bà Trần Thị T1 đã nhận được 1.760.000 đồng tiền bồi thường của gia đình các bị can, hiện bà T1 yêu cầu xử lý các bị can theo đúng quy định pháp luật.
Đối với phương tiện dùng để cướp giật tài sản hiện đang bị Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận T, thành phố Cần Thơ thu giữ nên không đề cập xử lý trong vụ án này.
Đối với những người mua vé số của các bị do không xác định được nên không xem xét xử lý trong vụ án này.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại, có ý kiến xin giảm nhẹ hành phạt cho các bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Không có yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền 1.760.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn phân tích lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau; phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập, có đủ cơ sở xác định các bị cáo Nguyễn Thị T và Trịnh Thái Q phạm tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự, nên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
- Xử phạt bị cáo Trịnh Thái Q từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình các bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 luật tố tụng hình sự.
01 nón bảo hiểm nửa đầu màu xanh, trên nón có chữ “NÓN THỂ THAO CAO CẤP” thu giữ của bị cáo T, không có giá trị sử dụng, bị cáo không có yêu cầu được nhận lại, nên tịch thu tiêu hủy.
Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của các bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy đinh của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đảm bảo theo quy định của pháp luật.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nguyễn Thị T và Trịnh Thái Q chung sống với nhau như vợ chồng, do muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không phải bỏ ra sức lao động của mình, các bị cáo Nguyễn Thị T và Trịnh Thái Q cùng nhau bàn bạc và thống nhất đi giật vé số của người khác đem bán lại cho người khác để kiếm tiền tiêu xài. Nên vào khoảng 07 giờ 40 ngày 07/5/2024, Trịnh Thái Q và Nguyễn Thị T đã có hành vi giả vờ mua vé số để tiếp cận tài sản của bà Trần Thị T1, sau đó giật lấy rồi nhanh chóng bỏ chạy nhằm chiếm đoạt tài sản với tổng giá trị là 1.760.000 đồng tại phường L, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Các bị cáo là người đã thành niên có đủ khả năng nhận thức, nên đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo sử dụng phương tiện nguy hiểm là xe môtô để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, khẳng định các bị cáo Nguyễn Thị T và Trịnh Thái Q phạm tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự 2015. Nên, cáo trạng tuy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn đối với các bị cáo là có căn cứ.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải, thành khẩn khai báo, các bị cáo có sự tác động để gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo cùng bàn bạc và thống thực hiện hành vi phạm tội, nên các bị cáo có sự đồng phạm trong việc thực hiện hành vi phạm tội, nhưng đây chỉ là đồng phạm giản đơn. Với hành vi và mức độ phạm tội của các bị cáo cần phải có một mức án nghiêm khắc tương xứng ngang nhau và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Ngoài ra theo Bản án số 87/2024/HSST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ thì mỗi bị cáo bị xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Nên căn cứ vào Điều 56 Bộ luật hình sự cần tổng hợp hình phạt đối với các bị cáo theo bản án nêu trên để buộc bị cáo chấp hành hình phạt cung của hai bản án.
Xét các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, bị hại không có yêu cầu gì thêm, nên không xem xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu, nên không xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 luật tố tụng hình sự.
01 nón bảo hiểm nửa đầu màu xanh, trên nón có chữ “NÓN THỂ THAO CAO CẤP” thu giữ của bị cáo T, không có giá trị sử dụng, bị cáo không có yêu cầu được nhận lại, nên tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị T và Trịnh Thái Q phạm tội “Cướp giật tài sản"
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 03 năm 06 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Trịnh Thái Q 03 năm 06 tháng tù.
Tổng hợp hình phạt 03 năm 06 tháng tù đối với các bị cáo của Bản án số 87/2024/HSST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ, buộc:
Bị cáo Nguyễn Thị T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 07 năm tù.
Thời hạn phạt tù được tính từ ngày 20/5/2024.
Bị cáo Trịnh Thái Q phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 07 năm tù.
Thời hạn phạt tù được tính từ ngày 20/5/2024.
Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 nón bảo hiểm nửa đầu màu xanh, trên nón có chữ “NÓN THỂ THAO CAO CẤP”.
Vật chứng được thể hiện theo Biên bản giao nhận giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/9/2024 (BL 117).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo:
Bị cáo; Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quốc Kiệt |
Bản án số 86/2024/HSST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự: cướp giật tài sản
- Số bản án: 86/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo phạm tội cướp giật tài sản
