Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2024/HS-ST

Ngày 27 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Chí Bình.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Tâm và bà Phạm Xuân Đào.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Khiêm.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trương Minh Thiện - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Lương Văn T (M), sinh năm 1979, tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn C và bà Nguyễn Thị L (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị L1 và 01 người con sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: chưa; nhân thân: Ngày 09/01/1997, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/1997; bị tạm giữ từ ngày 01/6/2024 đến ngày 10/6/2024 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn Thanh X, sinh năm 1983; nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • - Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1950; nơi cư trú: tổ G, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
  • - Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1982; nơi cư trú: tổ G, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
  • - Ông Lương Văn N, sinh năm 1977; nơi cư trú: tổ A, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.

Người làm chứng: Ông Lương Văn C; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ ngày 20/5/2024, Lương Văn T đi bộ từ nhà Lương Văn C (cha ruột của T) ở ấp A, xã A, đến nhà Nguyễn Thanh X thuộc ấp A, xã A, huyện C, quan sát thấy cửa hàng rào không khóa, trước nhà có dựng 01 chiếc xe mô tô biển số 67L6-7969, nhãn hiệu YAMEN, trên xe có gắn sẵn chìa khóa, nên T lén lút đi vào trong lấy trộm xe mô tô của X rồi điều khiển xe chạy về nhà C, cất giấu. Đến ngày 23/5/2024, Lương Văn N (anh ruột của T) phát hiện xe mô tô có trong nhà nhưng không biêt của ai nên trình báo và giao nộp cho Công an xã A. Ngày 01/6/2024, T đến Công an xã A đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội.

- Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 67L6-7969, nhãn hiệu YAMEN; 01 mũ lưỡi trai màu xanh đen; 01 mũ tai bèo, màu xanh; 01 áo khoác dài tay, màu xanh dương, đã qua sử dụng.

- Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐG.TTHS ngày 05/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C: 01 xe mô tô biển số 67L6-7969, nhãn hiệu YAMEN, có giá trị 3.000.000 đồng.

Ngày 10/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C khởi tố Lương Văn T để điều tra xử lý.

Tại Cáo trạng số 78/CT-VKSCM ngày 27 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố bị cáo Lương Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Lương Văn N cung cấp lời khai như đã khai trong giai đoạn điều tra.
  • - Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù. Về hình phạt bổ sung, đề nghị không áp dụng do bị cáo làm thuê kiếm sống, không có thu nhập ổn định. Về trách nhiệm dân sự, do bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên đề nghị không đề cập giải quyết. Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy 01 mũ lưỡi trai, 01 mũ tai bèo và 01 áo khoác dài tay bị thu giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng về thời gian, địa điểm, cách thức thực hiện hành vi phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận, vào khoảng 05 giờ ngày 20/5/2024, bị cáo Lương Văn T lén lút lấy trộm 01 xe mô tô biển số 67L6-7969, nhãn hiệu YAMEN, có gắn chìa khóa của ông Nguyễn Thanh X, được dựng trước nhà của ông X, rồi chạy về nhà ông Lương Văn C (cha ruột của bị cáo) cất giấu. Sau khi biết ông Lương Văn N (anh ruột của bị cáo) mang xe mô tô biển số 67L6-7969 giao nộp cho Công an xã A, ngày 01/6/2024, bị cáo đến Công an xã A khai nhận hành vi phạm tội.

Theo kết luận định giá tài sản của cơ quan chuyên môn, 01 xe mô tô biển số 67L6-7969, nhãn hiệu YAMEN, trị giá 3.000.000 đồng.

Từ các chứng cứ trên, có cơ sở xác định, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của ông X trị giá 3.000.000 đồng.

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại là xâm phạm quyền sở hữu của người khác nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân, quyền sở hữu là một trong những quyền thiêng liêng gắn với mỗi cá nhân, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trong lĩnh vực luật hình sự, những ai xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, đáp ứng quy định của pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt.

Vì hám lợi, bị cáo trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu của bị hại mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Về nhân thân, bị cáo có nhân thân xấu do bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” vào ngày 09/01/1997. Vì vậy, cần có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[5] Về hình phạt bổ sung, do bị cáo làm thuê kiếm sống, thuộc thành phần lao động nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra giao trả lại cho ông Nguyễn Thanh X 01 xe mô tô biển số 67L6-7969, nhãn hiệu YAMEN là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên không đề cập xử lý lại.

01 mũ lưỡi trai, 01 mũ tai bèo và 01 áo khoác dài tay bị thu giữ là trang phục được bị cáo sử dụng khi thực hiện tội phạm nên là vật có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội. Do các vật này không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự, sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, ông X không yêu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lương Văn T (M) phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt Lương Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm giữ, ngày 01/6/2024 (ngày một, tháng sáu, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

    Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) mũ lưỡi trai, màu xanh đen; 01 (một) mũ tai bèo, màu xanh và 01 (một) áo khoác dài tay, màu xanh dương (đều đã qua sử dụng), theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

  3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo Lương Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

    Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, ông Lương Văn N có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của ông Nguyễn Thanh X, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị D là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Chợ Mới;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Nhà Tạm giữ Công an huyện C;
  • - CQTHAHS Công an huyện C;
  • - CQĐT Công an huyện Chợ Mới;
  • - Chi cục THADS huyện C;
  • - Bộ phận THAHS Tòa án;
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú;
  • - Bị cáo, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Chí Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 86/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đối với bị cáo Lương Văn T về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger