Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THĂNG BÌNH

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2024/HS-ST

Ngày 25-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THĂNG BÌNH - TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Công Phúc

Và bà Đỗ Thị Liêu

Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Quốc Việt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình tham gia phiên tòa:

Ông Ngô Thanh An - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 76/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Thái Tấn A

- sinh ngày 04 tháng 6 năm 2006 tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: thôn Nam Bình Sơn, xã Bình Lãnh, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thái Tấn L và bà Đỗ Thị T; Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có ba anh em, chưa có vợ con;

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên toà.

Bị hại:

Chị Dũ Thị Kim Huệ, sinh năm 2001 và anh Thái Tấn Q, sinh năm 2000. Cùng trú tại: thôn Nam Bình Sơn, xã Bình Lãnh, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Thái Tấn L, sinh năm 1977. Trú tại: thôn Nam Bình Sơn, xã Bình Lãnh, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thái Tấn A là em chồng chị Dũ Thị Kim Huệ, là con của ông Thái Tấn Lượng và bà Đỗ Thị T. A và vợ chồng chị H ở cùng nhà với ông Lượng, bà Thái tại thôn Nam Bình Sơn, xã Bình Lãnh, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Trong thời gian sinh sống cùng nhà, A phát hiện chị Huệ cất tiền tiết kiệm của vợ chồng trong con heo đất và để trong tủ trong phòng ngủ của vợ chồng chị Huệ nên A nảy sinh ý định trộm cắp. Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2023 đến tháng 05/2024, khi cần tiền tiêu xài, lợi dụng lúc vợ chồng chị Huệ đi làm trong nhà không có ai, A vào phòng ngủ của vợ chồng chị Huệ mở tủ lấy con heo đất đem về phòng, A dùng 01 sợi thép nhỏ dài khoảng 15cm móc tiền trong con heo đất đến gần khe hở rồi dùng nhíp gắp tiền ra, mỗi lần A lấy từ vài trăm ngàn đồng đến vài triệu đồng, sau khi lấy được tiền, A đem con heo đất đặt lại vị trí cũ. Có 02 lần trước khi sự việc bị phát hiện, trong khoảng tháng 4/2024 và tháng 5/2024 (không nhớ ngày tháng cụ thể) A lấy một lần 900.000 đồng và một lần 5.700.000 đồng đem ra Đà Nẵng thuê phòng trọ ở và tiêu xài. Với thủ đoạn như trên, trong khoảng thời gian từ tháng 10/2023 đến tháng 5/2024, A đã trộm cắp của chị Huệ tổng số tiền 45.000.000 đồng, có khoảng từ 08 đến 09 lần trộm mà mỗi lần từ 2.000.000 đồng trở lên. Ngày 31/5/2024, chị Huệ phát hiện khe nhét tiền trên con heo đất bị mẻ, có dấu hiệu cạy phá, chị Huệ đập ra kiểm tra thì chỉ còn lại 950.000 đồng nên làm đơn báo cáo Công an xã Bình Lãnh.

Tại Cáo trạng số 78/CT-VKSTB-HS ngày 31/10/2024 VKSND huyện Thăng Bình truy tố bị cáo Thái Tấn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91, Điều 65 BLHS 2015 xử phạt Thái Tấn A từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình truy tố bị cáo về hành vi trộm cắp tài sản như Cáo trạng đã nêu là đúng, thống nhất ý kiến luận tội của kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo xin lỗi bị hại và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

Ý kiến của bị hại: Không có yêu cầu gì, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện Thăng Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người bào chữa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Lời khai của bị cáo Thái Tấn A tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình, ý kiến Kiểm sát viên và các chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa, có căn cứ xác định:

    Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2023 đến tháng 5/2024, tại nhà ông Thái Tấn Lượng và bà Đỗ Thị T, địa chỉ: thôn Nam Bình Sơn, xã Bình Lãnh, huyện Thăng Bình, Quảng Nam, Thái Tấn A có hành vi nhiều lần lén lút bí mật chiếm đoạt của vợ chồng chị Dũ Thị Kim Huệ và anh Thái Tấn Q tổng số tiền 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng) được cất trong con heo đất để tiêu xài cá nhân, trong đó có từ 02 lần trở lên lén lút chiếm đoạt mà mỗi lần từ 2.000.000 đồng trở lên. Vì vậy hành vi của bị cáo Thái Tấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Do đó, Cáo trạng của VKSND huyện Thăng Bình và lời luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật.

  3. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX nhận định:

    Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản người khác, gây ảnh hưởng trật tự an toàn xã hội nên cần xử phạt nghiêm để giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.

    Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo A bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

    Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS;

    Xét thấy khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người dưới 18 tuổi, có hạn chế nhất định trong nhận thức và điều khiển hành vi, do đó bị cáo được áp dụng chế định người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự khi cân nhắc quyết định hình phạt. Bị cáo có nhân thân tốt, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên HĐXX áp dụng Điều 65 BLHS 2015 cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được bồi thường thiệt hại, không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

  5. Xử lý vật chứng:

    Đối với 01 con dao hiệu Kiwi dài 21cm mũi dao nhọn (cán bằng nhựa màu vàng dài 10cm, lưỡi bằng kim loại dài 11cm), không liên quan trong vụ án nên trả lại cho ông Thái Tấn Lượng.

    Đối với 02 mảnh vỡ con heo đất không còn giá trị sử dụng và 01 cái nhíp bằng kim loại màu vàng dài 08cm là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

    Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD ghi hình có âm thanh hỏi cung bị can Thái Tấn A.

  6. Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Về hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91; Điều 101, Điều 65 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Thái Tấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt Thái Tấn A 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 25/11/2024).

Giao bị cáo Thái Tấn A cho Uỷ ban nhân dân xã Bình Lãnh, huyện Thăng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã Bình Lãnh, huyện Thăng Bình quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tuyên:

  • Trả cho ông Thái Tấn L 01 con dao hiệu Kiwi dài 21cm mũi dao nhọn (cán bằng nhựa màu vàng dài 10cm, lưỡi bằng kim loại dài 11cm).
  • Tịch thu tiêu huỷ: 02 mảnh vỡ con heo đất và 01 cái nhíp bằng kim loại màu vàng dài 08cm.
  • Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD ghi hình có âm thanh hỏi cung bị can Thái Tấn A.
  • (Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thăng Bình quản lý)

Về án phí:

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Thái Tấn A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/11/2024) bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án để đề nghị TAND tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Quảng Nam;
  • -VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • -VKSND h. Thăng Bình;
  • -CCTHADS h. Thăng Bình;
  • -Bị cáo, những người TGTT khác;
  • -VP công an h. Thăng Bình;
  • -Lưu HS-AV

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Cẩm Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THĂNG BÌNH - TỈNH QUẢNG NAM về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 86/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THĂNG BÌNH - TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: THÁI TẤN ÂN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger