|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 86/2024/HS-PT Ngày: 28/5/2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Luyện
- - Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương Giang
- Bà Phạm Thị Chuyền
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- - Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng T - Kiểm sát viên.
Ngày 28/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/TLPT-HS ngày 13/3/2024 đối với bị cáo Nông Thị H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
*Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Nông Thị H; tên gọi khác: Không; sinh năm 1983
Nơi ĐKHKTT: Bản Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; nơi ở: Bản C, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 6/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; con ông: Nông Văn V, sinh năm 1961 và bà Vương Thị T1, sinh năm 1961; có chồng: Võ Văn T2, sinh năm 1979 và có 2 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2005;
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 28/9/2023 đến ngày 04/10/2023, hiện tại ngoại (có mặt tại phiên toà).
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Long Xuân T3, Luật sư Nguyễn Văn H1 Công ty L1 – Đoàn Luật sư thành phố H (có mặt).
*Trong vụ án còn có người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lưu Đức Q, anh Long Văn H2, anh Nguyễn Văn C, anh Hoàng Văn T4, anh Lục Văn N, anh Võ Văn T2 nhưng không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1
Hồi 17 giờ 45 phút ngày 28/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang phối hợp cùng Phòng PA01 Công an tỉnh B bắt quả tang Nông Thị H đang có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức mua bán số lô, số đề cho đối tượng Lưu Đức Q, sinh năm 1989 ở bản B, xã Đ, huyện Y. Vật chứng thu giữ gồm: Số tiền: 5.944.000 đồng (Năm triệu chín trăm bốn mươi bốn nghìn đồng); 03 (ba) bút bi mực màu đen; 01 (một) bút bi mực màu xanh; 01 (một) quyển sổ ô ly, ngoài bìa có ghi chữ tuổi ngọc, bên trong có 27 trang giấy có ghi chữ và các con số là số lô số đề H đã bán (từng trang giấy ký hiệu từ 01 đến 27 và có chữ ký của Nông Thị H); 01 (một) tờ giấy vở ô ly một mặt có ghi chữ và các con số là những số lô, số đề H bán cho khách vào ngày 28/9/2023 có chữ ký của Nông Thị H; 01 (một) tờ bìa vỏ hộp thuốc lá Thăng Long, một mặt có ghi chữ và số là những số lô, số đề H bán cho khách vào ngày 28/9/2023 có chữ ký của Nông Thị H; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nắp phía sau có chữ OPPO, có 02 sim; 01 tờ cáp bằng vỏ hộp thuốc là Thăng L, một mặt có ghi chữ và số là số lô, số đề Q mua của H vào ngày 28/9/2023 có chữ ký của Lưu Đức Q.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y khám xét khẩn cấp nơi ở của H. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật tài sản gì.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chữ viết trong các tài liệu thu giữ của H và Q. Trưng cầu giám định khôi phục và trích xuất dữ liệu điện tử đối với các điện thoại thu giữ của H.
Tại Kết luận giám định số 1839/KL-KTHS ngày 03/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chữ ký, chữ viết trên các tài liệu giám định (ký hiệu A1 đến A17 - trừ chữ viết, chữ số tẩy xóa, sửa chữa nội dung trên các tài liệu cần giám định từ A1 đến A16 và chữ viết có nội dung “Tổng - Lưu Đức Q” trên tài liệu cần giám định A16) so với chữ ký, chữ viết của Nông Thị H trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M7) là do cùng một người ký, viết ra. Chữ viết có nội dung “Tổng - Lưu Đức Q” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A16) so với chữ viết của Lưu Đức Q trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M8 đến M12) là do cùng một người viết ra.
Tại Kết luận giám định số 1971/KL-KTHS ngày 17/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Trích xuất, khôi phục được 190 dữ liệu tin nhắn SMS; 578 dữ liệu tin nhắn Zalo trong khoảng thời gian từ ngày 01/9/2023 đến ngày 28/9/2023 lưu trong 01 (một) điện thoại di động nhãn nhiệu Oppo thu giữ của H bao gồm các giao dịch thông thường không liên quan đến hành vi phạm tội và một số hình ảnh thể hiện nội dung mua bán số lô, số đề giữa H và khách. (Chi tiết dữ liệu thể hiện trong thư mục có tên “Du lieu”, tổng dung lượng 2,15MB, được lưu trữ trong 01 (một) đĩa CD-R nhãn hiệu Maxell, màu vàng).
Quá trình điều tra, xác định hình thức đánh bạc như sau: Nông Thị H lợi dụng việc bán xổ số Miền B, từ ngày 20/9/2023, H bắt đầu tham gia đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho khách đến mua. Phương thức, thủ đoạn và hình thức đánh bạc của H được thực hiện khi có người chơi mua số lô, số đề thì H sẽ bán các số lô, số đề cho người chơi. Các số lô, số đề người chơi mua để đánh bạc gồm: số đề đặc biệt, số đề nhất to; số lô xiên và số lô. H căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng hàng ngày để xác định trúng thưởng hay không trúng thưởng, cụ thể: Đề tính theo hai số, ba số hoặc bốn số cuối của giải đặc biệt, đề nhất to tính theo hai số, ba số hoặc bốn số cuối của giải nhất gọi là hai càng, ba càng, bốn càng. Lô xiên thì lấy 2 số cuối của tất cả các giải kết quả sổ số Miền B và có thể đánh 2 cặp
2
số, 3 cặp số, 4 cặp số gọi là xiên 2, xiên 3, xiên 4. Số lô thì lấy 2 số cuối của tất cả các giải kết quả sổ số Miền B, H tính giá 23.000đồng/1 điểm. Người chơi mua các số lô, số đề nếu trúng thưởng thì được người bán thanh toán trả tiền còn nếu không trúng thưởng thì người chơi sẽ bị thua số tiền đã bỏ ra mua các con số lô, số đề đó. Việc trúng thưởng được thanh toán như sau: Tiền đề đặc biệt, đề nhất to 02 số cứ 1.000 đồng trúng thì sẽ được 80.000 đồng, đề đặc biệt và nhất to 03 số cứ 1.000 đồng trúng thì được 400.000 đồng, đề đặc biệt và nhất to 04 số cứ 1.000 đồng trúng thì được 1.000.000 đồng. Lô xiên hai số cứ 1.000 đồng trúng được 10.000 đồng, lô xiên 03 số cứ 1.000 đồng thì được 40.000 đồng, lô xiên 04 số cứ 1.000 đồng thì trúng được 100.000 đồng. Đối với các số lô, trúng 01 điểm lô được 80.000 đồng. Khi khách hỏi mua số lô, số đề H viết ra tờ cáp rồi ký đưa cho khách để nếu trúng thì đưa cáp rồi H thanh toán tiền.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Nông Thị H khai nhận việc đánh bạc như sau:
- * Ngày 23/9/2023, H bán số lô, số đề cho khách vãng lai gồm: đầu 7 = 30.000đồng, đầu 8 = 40.000đồng, 36 số đề đặc biệt hai số = 540.000đồng; 04 số đề đặc biệt ba càng = 40.000 đồng; 03 số đề nhất to hai số = 80.000 đồng; 01 cặp lô xiên ba số = 10.000đồng; Số lô 112 điểm = 2.576.000 đồng. Tổng số tiền bán lô đề là 3.316.000đồng.Ngày 23/9/2023, khách trúng: số đề đặc biệt 22 =1.600.000 đồng; Số lô 62 điểm = 4.960.000 đồng, tổng cộng là 6.560.000đồng. Tổng số tiền H đánh bạc ngày 23/9/2023 là: 9.876.000 đồng.
- * Ngày 25/09/2023, H bán số lô, số đề cho khách vãng lai gồm: Đầu 9 = 50.000đồng, đít 8 = 100.000đồng, 38 số đề đặc biệt hai số = 840.000đồng; 04 Số đề đặc biệt ba càng = 100.000đồng; 05 Số đề nhất to hai số = 70.000đồng; Số lô 155 điểm = 3.565.000đồng. Ngày 25/09/2023 khách trúng số đề đặc biệt 79 = 800.000đồng; Số lô 30 điểm = 2.400.000đồng.
Ngoài ra H còn bán số lô số đề cho anh Long Văn H2, sinh năm 1977, ở thôn L, xã H, huyện Y qua tài khoản zalo tên “L” nhắn tin vào tài khoản zalo của H tên “Nông Thị H” đăng ký bằng số thuê bao: 0964.228.805 để hỏi mua những số lô, số đề của H cụ thể: 07 Số đề đặc biệt hai số = 70.000đồng, không trúng thưởng.
Tổng số tiền H đánh bạc ngày 25/9/2023 là: 7.995.000 đồng.
- * Ngày 26/09/2023, H bán số lô, số đề cho khách vãng lai gồm: Đầu 7 =50.000đồng, đầu 9 =50.000đồng, đầu 6 =100.000đồng, đít 5 =100.000đồng, 52 số đề đặc biệt = 1.120.000đồng; 03 Số đề đặc biệt ba càng = 120.000đồng; 11 Số đề nhất to hai số =130.000 đồng; 03 cặp lô xiên hai số = 90.000đồng; 01 cặp Lô xiên ba số 20.000đồng; Số lô 155 điểm 3.565.000đồng. Ngày 26/09/2023 khách trúng lô xiên 02 số 01 cặp = 500.000đồng; lô xiên 03 số 01 cặp = 800.000đồng; Số lô 40 điểm = 3.200.000 đồng.
Ngoài ra H còn bán số lô số đề cho anh Long Văn H2 qua tài khoản zalo tên “L” nhắn tin vào tài khoản zalo của H tên “Nông Thị H” đăng ký bằng số thuê bao: 0964.228.805 để hỏi mua những số lô, số đề của H cụ thể: 02 Số đề đặc biệt hai số = 20.000đồng, không trúng thưởng. H bán số lô số đề cho Nguyễn Văn C, sinh năm 1976 ở thôn C, xã H, huyện Y qua tài khoản zalo tên “Acu Quye” nhắn tin vào tài khoản zalo của H tên “Nông Thị H” đăng ký bằng số thuê bao: 0964.228.805 để hỏi mua những số lô, số đề của H cụ thể như sau: Số lô 50 điểm = 1.150.000 đồng, không trúng thưởng.
Tổng số tiền H đánh bạc ngày 26/9/2023 là: 11.015.000 đồng.
3
- * Ngày 28/09/2023: Tại thời điểm bắt quả tang trước khi mở thưởng, tại nhà của H có Lưu Đức Q đang mua của H các số lô, số đề gồm: Số đề đặc biệt 33 = 200.000đồng; Số đề đặc biệt ba càng 933 = 50.000đồng; Đề nhất to hai số 33 = 150.000đồng; 01 cặp Lô xiên ba số = 100.000đồng; Số lô 130 điểm = 2.990.000đồng. H có ghi những số lô, số đề này cho Q ra một tờ cáp đề bằng vỏ hộp thuốc lá rồi đưa cho Q thì Q thanh toán tiền cho H tổng số tiền 3.490.000 đồng thì bị bắt quả tang.
Ngoài ra, H còn bán số lô số đề cho anh Hoàng Văn T4, sinh năm 1975, ở thôn C, xã H, huyện Y gồm: 02 số đề đặc biệt hai số = 50.000đồng; 02 số đề đặc biệt ba càng =20.000đồng. H bán số lô, số đề cho anh Lục Văn N, sinh năm 1975, ở thôn C, xã H, huyện Y gồm: 01 số đề đặc biệt hai số = 20.000đồng; Số lô 10 điểm = 230.000 đồng. Ngoài ra H còn bán số lô, số đề cho khách vãng lai được tổng số tiền 1.570.000 đồng.
Tổng số tiền H đánh bạc ngày 28/9/2023 là: 5.380.000 đồng.
Quá trình điều tra Nông Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 29/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Nông Thị Hà về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nông Thị H 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày tự nguyện hoặc bắt thi hành án, được trừ những ngày tạm giữ từ 28/9/2023 đến ngày 04/10/2023. Không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Nông Thị H.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, quyền kháng cáo cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/02/2024 bị cáo Nông Thị H nộp đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo trình bày: Bị cáo chỉ kháng cáo xin được hưởng án treo. Về tội danh,điều luật áp dụng xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 15 tháng tù giam là nặng. Do hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng kinh tế khó khăn, bản thân bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để chăm sóc các con còn nhỏ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- -Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo.
4
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nông Thị H 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- -Về án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Hoàn toàn đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát. Mong Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh điều kiện của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được áp dụng để cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo nhất trí với ý kiến của người bào chữa, không tranh luận, bổ sụng gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nông Thị H khai nhận có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề trong các ngày 23/9/2023 với số tiền 9.876.000 đồng; ngày 25/9/2023 với số tiền 7.995.000 đồng; ngày 26/9/2023 với số tiền 11.015.000 đồng; ngày 28/9/2023 với số tiền 5.380.000 đồng như bản án sơ thẩm đã kết luận là đúng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Xác định tổng số tiền bị cáo Nông Thị H đánh bạc trong các ngày là 34.266.000đồng. Bản án hình sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo:
[3.1] Bị cáo có hành vi đánh bạc trong 04 ngày với tổng số tiền là 34.266.000 đồng. Số tiền đánh bạc trong mỗi ngày đều đủ định lượng cấu thành tội “Đánh bạc” nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự như Tòa án sơ thẩm áp dụng là đúng.
[3.2] Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự do bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có mẹ đẻ được Bộ cấp giấy chứng nhận đã có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến, được hưởng chế độ theo QĐ số 49/2015/QĐ-TTg ngày 14/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ, có ông Võ Công Đ là bố chồng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến là phù hợp.
[3.3] Tại cấp phúc thẩm bị cáo Nông Thị H giao nộp Giấy khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang về việc bị cáo có nhiều đóng góp trong thực hiện phong trào xây dựng bản làng Ba đạt tiêu chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu năm 2023, nộp biên lai về việc bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền thu lợi bất
5
chính là 2.460.000đồng. Đây là tình tiết mới ở cấp phúc thẩm thể hiện ý thức chấp hành pháp luật, thái độ ăn năn hối cải của bị cáo nên áp dụng cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4.5] Xét tính chất vụ án, mức độ và hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo có 04 ngày thực hiện hành vi đánh bạc (thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần), tuy nhiên các lần phạm tội đều là ít nghiêm trọng. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình sinh sống tại địa phương luôn chấp hành tốt quy định pháp luật được địa phương xác nhận, tại cấp phúc thẩm bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Căn cứ Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 07/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo thì bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục theo Điều 65 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Viện Kiểm sát là phù hợp, đảm bảo giáo dục, răn đe bị cáo đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nông Thị H, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[6] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nông Thị H. Sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang và cho bị cáo Nông Thị H hưởng án treo.
2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Nông Thị H 01 năm 03 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
6
3.Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nông Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Thị Luyện |
7
8
Bản án số 86/2024/HS-PT ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 86/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nông Thị H phạm tội đánh bạc
