Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 86/2024/HS-PT

Ngày: 05/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân

Các Thẩm phán: 1/ Ông Bùi Thanh Quốc

2/ Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 131/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 01/4/1973. Giới tính: Nam; nơi sinh: Thị xã H - Thừa Thiên Huế; đăng ký thường trú: Khu V, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 8/12; họ và tên cha: Nguyễn Văn D (chết); họ và tên mẹ: Cao Thị X (chết); anh, chị, em: có 09 người; vợ: Trần Thị R (đã ly hôn); con: Nguyễn Chánh T1, sinh năm 2002; Tiền án; tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án, còn có người bị hại nhưng không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T cho rằng Phan Văn N, sinh năm 1981, khu vực T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ có quan hệ tình cảm với vợ của mình là Trần Thị R nên dẫn đến ly hôn, từ đó cả hai phát sinh mâu thuẫn.

Khoảng 19 giờ, ngày 07/10/2023 giữa Nguyễn Văn T và Trần Thị R xảy ra cự cải tại nhà của T khu vực T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Lúc này, Phan Văn N cũng đến nhà của bà Huỳnh Thị L (mẹ ruột R) ở gần đó. Khi thấy T và R cự cãi nhau thì N có nói chen vào, sau đó N đi vào nhà bà L. Lúc này, do có sử dụng rượu, bia và nhớ đến nguyên nhân xảy ra ly hôn nên T đi vào nhà bếp lấy một con dao chạy qua nhà bà L để tìm chém T. Lúc này, chị R nhìn thấy nên đóng của lại thì bị T dùng chân đạp vào cửa làm chị R té ngã vào vách nhà; N đang ngồi trong nhà định đứng lên thì bị T dùng dao chém từ trên xuống trúng vào mang tai bên trái, N phản kháng bằng cách chụp lấy tay cầm dao của T, cả hai giằng co làm bể tủ kính và vật nhau dưới nền nhà gây nhiều thương tích khác. Sau đó, cả hai được mọi người can ngăn. Nho điện thoại trình báo với Công an phường P và đến bệnh viện để điều trị thương tích.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số: 748/KLTTCT-TTPYCT ngày 14 tháng 11 năm 2023 của Trung tâm pháp y – Sở Y kết luận:

  • - Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Phan Văn N tại thời điểm giám định là 13% (mười ba phần trăm).
  • - Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương kéo dài từ vùng thái dương trái qua phần má phải đến góc hàm trái, vết thương sau cổ lệch phải và vết thương trước vai phải của ông Phan Văn N phù hợp với cơ chế do vật sắc gây nên.
  • - Chiều hướng: Vết thương kéo dài từ vùng thái dương trái qua phần má phải đến góc hàm trái có chiều hướng từ trên xuống dưới. Vết thương sau cổ lệch phải không xác định được chiều hướng. Vết thương mặt trước vai phải có chiều hướng từ trên xuống dưới, sau ra trước, chếch từ phải qua trái.
  • - Tỷ lệ từng vết thương:
    • + Vết thương kéo dài từ vùng thái dương trái qua phần má phải đến góc hàm trái, vết thương đã lành sẹo có tỷ lệ là 06% (sáu phần trăm).
    • + Vết thương sau cổ lệch phải đã lành sẹo có tỷ lệ là 04% (bốn phần trăm).
    • + Vết thương mặt trước vai phải đã lành sẹo có tỷ lệ là 01% (một phần trăm).
    • + Đứt tuyến mang tai trái thùy nông có tỷ lệ là 03% (ba phần trăm)

Tang vật thu giữ: 01 (một) cây dao dài 36cm, lưỡi dao bằng kim loại màu xám đen, lưỡi dao sắc đầu nhọn, bề ngang dao dài 12cm, có một lỗ rỗng tròn cách cán dao 11cm, cán dao bằng gỗ màu nâu dài 13cm có viền kim loại màu vàng đã qua sử dụng; Các mảnh kính vỡ có kích thước không đều nhau.

Về phần dân sự: Các bên thỏa thuận Nguyễn Văn T bồi thường cho Phan Văn N tổng số tiền là 80.300.000 đồng. Tới thời điểm kết luận điều tra T đã bồi thường cho N số tiền 50.300.000 đồng, hiện N đã làm đơn bãi nại cho T.

Tại bản án hình sự số 54/2024/HS-ST ngày 10/7/2024, Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi tuyên án sơ thẩm, ngày 19/7/2024 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt hoặc được hưởng án treo để lo cho cuộc sống.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo cung cấp các biên nhận nhận tiền có chữ ký ghi tên Phan Văn N thể hiện bị cáo đã bồi thường thêm cho ông N 20.000.000 đồng. Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi như đã được nêu trong bản án sơ thẩm, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo để lo cho cuộc sống.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa nhận định:

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích với tình tiết định khung tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Khi lượng hình cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là có cơ sở, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo có bồi thường thêm cho người bị hại số tiền 20.000.000 đồng. Tuy nhiên, mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, vấn đề bồi thường đã được cấp sơ thẩm áp dụng là tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội có thời hạn để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung là cần thiết. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm đã tuyên. Đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:

Bị cáo Nguyễn Văn T và bà Trần Thị R trước đây là vợ chồng, đã ly hôn nhưng chưa chia tài sản chung và vẫn còn sống cùng nhà gần với nhà của mẹ ruột bà R – bà Huỳnh Thị L; Phan Văn N là con nuôi của bà L.

Ngày 07/10/2023, bị cáo và bà R có xảy ra cự cãi, bị cáo định đánh bà R nên bà R chạy về nhà của bà L, khi đó ông N cũng đến nhà của bà L. Vì nghi ngờ bà R có quan hệ tình cảm với ông N nên mới dẫn đến ly hôn nên bị cáo đã vào bếp lấy một con dao chạy qua nhà bà L để chém Nho.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số: 748/KLTTCT-TTPYCT ngày 14 tháng 11 năm 2023 của Trung tâm pháp y – Sở Y kết luận: Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Phan Văn N tại thời điểm giám định là 13% (mười ba phần trăm). Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương kéo dài từ vùng thái dương trái qua phần má phải đến góc hàm trái, vết thương sau cổ lệch phải và vết thương trước vai phải của ông Phan Văn N phù hợp với cơ chế do vật sắc gây nên.

Với hành vi nêu trên và tỷ lệ thương tích của người bị hại, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo về tội Cố ý gây thương tích với tình tiết định khung tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[3] Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt hoặc được hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy:

[3.1] Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp hậu quả, dùng dao để tìm gây thương tích cho bị hại bất chấp sự ngăn cản của những người xung quanh. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, tạo tâm lý hoang mang, bất ổn cho quần chúng nhân dân. Do đó cần có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội có thời hạn để cải tạo, giáo dục là cần thiết, qua đó cũng nhằm đảm bảo tác dụng răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

[3.2] Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo có bồi thường thêm cho người bị hại số tiền 20.000.000 đồng, vấn đề bồi thường đã được cấp sơ thẩm xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1, đồng thời cấp sơ thẩm còn xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; mức hình phạt đã tuyên tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo và người bị hại không có mâu thuẫn, chỉ vì nghi ngờ vô cớ bị cáo đã sử dụng hung khí gây thương tích cho người bị hại, Kiểm sát viên đánh giá bị cáo xem thường pháp luật, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội có thời hạn như bản án sơ thẩm đã tuyên để cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung là có cơ sở để chấp nhận.

[3.3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[5] Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 54/2024/HS – ST ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND CC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - Cơ quan tố tụng Q. Ô Môn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Bích Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2024/HS-PT ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 86/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger