|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 86/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 11/9/2024
V/v:"không công nhận vợ chồng, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lưu Văn Thủy.
- Bà Lê Thị Hường.
-Thư ký phiên tòa: Bà Lương Nữ Vân Kiều-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mai Lan-Kiểm sát viên.
Ngày 11/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 172/2024/TLST-HNGĐ ngày 23/5/2024 về việc "không công nhận vợ chồng, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2024/QĐHNGĐ-ST ngày 26/8/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Minh H –sinh năm 1985 (có mặt)
Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
* Bị đơn: Ông Võ Thành L –sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh H trình bày:
Bà và ông Võ Thành L tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2007, hai bên có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng về sống tại thôn T, xã P, huyện N. Quá trình bà và ông L chung sống thường xuyên xảy ra cải vả, do bất đồng quan điểm sống, ông L thường xuyên uống rượu bia về nhà kiếm chuyện chửi mắng và đánh đập bà. Bà và ông L không còn chung sống với nhau từ tháng 3/2023 cho đến nay, không quan tâm nhau. Mâu thuẫn giữa bà và ông L đã đến mức trầm trọng, nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận quan hệ giữa bà và ông L không phải là vợ chồng.
Về con chung: có 02 người con chung tên Võ Anh V, sinh ngày 26/8/2006 và Võ Ngọc N, sinh ngày 17/5/2009. Trong thời gian sống ly thân thì các con sống cùng với bà. Khi giải quyết không công nhận vợ chồng, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các con và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Võ Thành L: Vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý hồ sơ cho đến phiên tòa xét xử hôm nay nên không có lời trình bày.
Chính quyền địa phương thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận-nơi ông Võ Thành L sinh sống xác nhận: ông L và bà H chung sống hay cải nhau, đang sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Bà H dẫn con bỏ đi, còn ông L hiện không có mặt tại địa phương, ông L đi đâu và làm gì thì địa phương không rõ.
Đại diện Viện kiểm sát huyện N phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (HĐXX) nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và thư ký phiên tòa luôn tuân theo pháp luật tố tụng; Nguyên đơn luôn chấp hành pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng Tòa án đã thực hiện tống đạt thủ tục tố tụng theo quy định và xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật. Về nội dung: bà Nguyễn Thị Minh H và ông Võ Thành L chung sống với nhau nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu công nhận quan hệ giữa bà H và ông L không phải là vợ chồng. Về con chung nên giao con chưa thành niên cho bà H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. HĐXX sơ thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Minh H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ giữa bà H và ông Võ Thành L là vợ chồng, yêu cầu nuôi con. Đơn kiện đảm bảo về nội dung, hình thức. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện N. Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 của BLTTDS, HĐXX xác định đây là vụ án Dân sự loại Hôn nhân gia đình về việc “không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Đối với bị đơn ông Võ Thành L vắng mặt trong suốt quá trình từ khi thụ lý vụ án, tiến hành phiên hòa giải, đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng theo quy định của BLTTDS, nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: HĐXX xét thấy bà Nguyễn Thị Minh H và ông Võ Thành L tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2007 cho đến nay nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên quan hệ hôn nhân này không được pháp luật công nhận. Xét mâu thuẫn giữa bà H và ông L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó chấp nhận yêu cầu quan hệ giữa bà H và ông L không phải vợ chồng là có căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 và Khoản 1 Điều 14 Luật HNGĐ 2014 và Khoản 7 Điều 28 BLTTDS.
[3] Về con chung: bà H và ông L có 02 con chung tên Võ Anh V, sinh ngày 26/8/2006 và Võ Ngọc N, sinh ngày 17/5/2009. Hiện cháu V đã trưởng thành lao động tự túc được nên bà H không có ý kiến gì. Riêng cháu N còn nhỏ và đang sống cùng với bà H. Khi ly hôn bà H yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.
Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử ông L vắng mặt, không có ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con của bà H, từ khi vợ chồng sống ly thân chính bà H đã trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung.
Xét thấy, hiện cháu N đang sống cùng với bà H và bà H chăm sóc con tốt, ông L không quan tâm đến con, không chu cấp tiền nuôi con. Xét yêu cầu nuôi con của bà H là cần thiết để đảm bảo cho con phát triển được tốt và phù hợp với nguyện vọng của cháu N chưa thành niên muốn sống cùng với mẹ (H). Vì vậy HĐXX căn cứ Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận giao Ny cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu không xét.
[5] Về án phí: Bà H phải chịu án phí theo pháp luật.
[6] Căn cứ vào những phân tích trên, xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
Khoản 7 Điều 28, Điều 35, Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 9 và Khoản 1 Điều 14; Điều 15; Điều 16; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- 1.Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Minh H ông Võ Thành L.
- 2.Về con chung: Bà Nguyễn Thị Minh H có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Võ Ngọc N, sinh ngày 17/5/2009. Ông Võ Thành L không phải cấp dưỡng nuôi các con chung do bà Nguyễn Thị Minh H không yêu cầu.
Sau khi không công nhận quan hệ vợ chồng, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- 3.Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
- 4.Về án phí: Bà Nguyễn Thị Minh H phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về yêu cầu không công nhận vợ chồng) nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004363 ngày 22/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Bà Nguyễn Thị Minh H đã nộp đủ án phí.
- 5.Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Xuân Thủy |
Bản án số 86/2024/HNGĐ-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 86/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận vợ chồng, tranh chấp nuôi con
