|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 86/2024/HNGĐ - ST Ngày 10 - 12 - 2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tòng
Ông Mai Đức Danh
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Ánh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 244/2024/TLST- HNGĐ ngày 17/9/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 2003
Nơi thường trú: TDP H, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: Thôn A, xã N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
2. Bị đơn: Anh Lê Đình C, sinh năm 1995
Nơi thường trú: TDP H, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa có mặt chị N, vắng mặt anh C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã N vào ngày 22/10/2021. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, quan điểm sống có nhiều bất đồng, bên cạnh đó anh C thường xuyên đánh đập chị, mâu thuẫn đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhiều lần nhưng vẫn không hòa hợp được, kể từ tháng 3 năm 2024 vợ chồng sống ly thân không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ
chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, chị không thể dài cuộc sống chung cùng anh C, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh C.
Về con chung: Chị và anh C có 01 con chung là Lê Đình Tuấn A, sinh ngày 06/3/2022 hiện nay đang ở với chị. Khi ly hôn chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lê Đình C trình bày: Về hôn nhân: Anh và chị N kết hôn năm 2021 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã N vào ngày 22/10/2021. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 7 năm 2023 thì phát sinh mâu thẫu, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, kể từ tháng 3 năm 2024 vợ chồng sống ly thân, chị N bỏ về nhà ngoại ở xã N, thị xã N sinh sống vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị N khởi kiện ly hôn anh xét thấy tình cảm anh giành cho chị N vẫn còn, nên anh không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Lê Đình Tuấn A, sinh ngày 06/3/2022, bản thân anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nuôi dạy con, nếu chị N cương quyết ly hôn và được Tòa án giải quyết cho ly hôn, nguyện vọng của chị N muốn được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con, anh đồng ý với yêu cầu của chị N.
Về tài sản chung: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa chị N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ, bị đơn chấp hành không đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị N. Về hôn nhân giải quyết cho chị N được ly hôn anh C; Về con chung: giao cháu Lê Đình Tuấn A, sinh ngày 06/3/2022 cho chị Lê Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chị N không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xem xét; Về tài sản chung: chị N và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét; Về án phí: chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị N yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn giữa chị và anh C, anh C cư trú tại phường H, thị xã N, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Anh C đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh C theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu ly hôn và tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh C: Quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh C trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng sống ly thân từ tháng 3 năm 2024 đến nay, nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh C.
Anh C thừa nhận trong cuộc sống vợ chồng có mâu thuẫn, nhưng mâu thuẫn chưa đến mức trầm trọng, bản thân anh vẫn còn tình cảm với chị N và mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để động viên, thuyết phục chị N và anh Công đoàn T, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình chăm sóc con chung. Tuy nhiên, chị N vẫn khẳng định bản thân chị không còn tình cảm với anh C, chị không thể kéo dài cuộc sống chung cùng anh C, nên đề nghị giải quyết cho ly hôn.
Căn cứ vào trình bày của chị N và anh C có căn cứ để xác định hôn nhân giữa chị N và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Anh C xác định vẫn còn tình cảm với chị N và mong muốn vợ chồng đoàn tụ, nhưng anh không có biện pháp và cách thức giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, để hàn gắn tình cảm với chị N, tại phiên tòa chị N vẫn cương quyết đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[3] Về con chung: chị N và anh C 01 con chung Lê Đình Tuấn A, sinh ngày 06/3/2022, kể từ khi vợ chồng sống ly thân cháu A ở cùng chị N. Chị N đề nghị khi ly hôn chị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
Anh C mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nuôi dạy con chung, nếu chị N cương quyết ly hôn, anh đồng ý giao con chung cho chị N nuôi dưỡng.
Hội đồng xét xử xét thấy chị N có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con, cháu A còn nhỏ cần sự cần sự chăm sóc của người mẹ, nên giao cho chị N trực tiếp nuôi con là phù hợp, chị N không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xem xét.
Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của chị N và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát giao cháu Lê Đình Tuấn A, sinh ngày 06/3/2022 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[4] Về tài sản chung: Chị N và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị N khởi kiện vụ án ly hôn, nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQ14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị N:
- - Về hôn nhân: Chị Lê Thị N được ly hôn anh Lê Đình C.
- - Về con chung: Giao cháu Lê Đình Tuấn A, sinh ngày 06/3/2022 cho chị Lê Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
- Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Lê Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002946 ngày 17/9/2024.
- Quyền kháng cáo: Chị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án, thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Sơn |
Bản án số 86/2024/HNGĐ - ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 86/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị N ly hôn anh C
