Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07 - 8 - 2024

V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Lam

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sỹ Quân

Ông Nguyễn Tất Thể.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 100/2024/TLST - HNGĐ, ngày 28/5/2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXX-ST, ngày 24/7/2024, giữa:

*Nguyên đơn: Chị Lê Thị Mỹ N, sinh năm 1989; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn L, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại S, D, K, K1, C (Campuchia). (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

*Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn L, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại hồ sơ vụ án, chị Lê Thị Mỹ N trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Mỹ N và anh Nguyễn Xuân H kết hôn vào ngày 30/12/2009 có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, hôn nhân giữa hai người là tự nguyện, không ai bị ép buộc. Thời gian đầu hai vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng đầu tháng 12 năm 2022 chị N đi lao động tại Campuchia, hai vợ chồng ít liên lạc với nhau, xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, cứ như vậy mâu thuẫn giữa hai vợ chồng kéo dài, không còn quan tâm tới cuộc sống của nhau. Nay chị Lê Thị Mỹ N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị N làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Xuân H.

Về con chung: Hai vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Bảo C1, sinh ngày 04/01/2011 và cháu Nguyễn Bảo H1, sinh ngày 02/3/2017. Hiện nay hai cháu ở cùng anh H, chị N có nguyện vọng giao hai con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị N đóng tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000đ/tháng/ 02 cháu.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do điều kiện công việc, chị N có nguyện vọng xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án và ủy quyền cho anh Nguyễn Thế Q, sinh năm 1994, trú tại xóm M, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An thực hiện việc giao, nhận các tài liệu, chứng cứ với Tòa án và thông báo lại cho chị N.

Theo bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Xuân H trình bày:

Về hôn nhân: Anh H và chị Lê Thị Mỹ N kết hôn với nhau như trình bày của chị Nhất L đúng sự thật. Sau khi kết hôn chúng tôi sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do năm 2022 chị N đi lao động ở nước ngoài và không liên lạc với gia đình, không quan tâm đến con cái dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N làm đơn ly hôn anh H đồng ý.

Về con chung: Hiện nay hai con chung là cháu Nguyễn Thị Bảo C1 và Nguyễn Bảo H1 đang ở với anh H, sau khi ly hôn anh H có nguyện vọng được nuôi hai con chung và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo đơn trình bày nguyện vọng của cháu Nguyễn Thị Bảo C1 và cháu Nguyễn Bảo H1 với nội dung: Chúng cháu là con của mẹ Lê Thị Mỹ N và bố Nguyễn Xuân H, nếu bố mẹ cháu ly hôn chúng cháu có nguyện vọng được ở với bố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 29, Điều 37, Điều 39 BLTTDS, khoản 1 Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83,123, 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, cụ thể:

Về tình cảm: chị Lê Thị Mỹ N và anh Nguyễn Xuân H được ly hôn.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Bảo C1 và cháu Nguyễn Bảo H1 cho anh Nguyễn Xuân H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, chị Lê Thị Mỹ N không phải đóng tiền cấp dưỡng và được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được phép cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên miễn xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV buộc chị Lê Thị Mỹ N nộp 300.000đ án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Về tố tụng:

1.1 Chị Lê Thị Mỹ N có yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Xuân H. Chị Lê Thị Mỹ N hiện đang lao động tại Campuchia. Tại thời điểm Tòa án thụ lý, theo công văn của Phòng quản lý xuất nhập cảnh số 627/PA08 - Đ1 ngày 02/7/2024 của phòng PA08 Công an tỉnh thì chị Lê Thị Mỹ N xuất cảnh ngày 08/12/2022 hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đơn khởi kiện, bản tự khai và một số giấy tờ do chị N cung cấp có chứng nhận của Đ tại Campuchia. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Lê Thị Mỹ N và anh Nguyễn Xuân H đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt anh Nguyễn Xuân H, chị Lê Thị Mỹ N theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Mỹ N và anh Nguyễn Xuân H đã tuân thủ các điều kiện kết hôn, đã đăng ký kết hôn ngày 30/12/2009 có đăng ký kết hôn tại UBNDxã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định về điều kiện kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình xác định hôn nhân giữa chị N và anh H là hợp pháp.

Theo chị Lê Thị Mỹ N, anh Nguyễn Xuân H trình bày sau khi kết hôn một thời gian chị N đi lao động tự do tại Campuchia, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do mâu thuẫn trầm trọng, kéo dài, vợ chồng sống xa nhau không còn quan tâm chia sẻ lẫn nhau, chị N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tỉnh giải quyết cho vợ chồng chị được ly hôn, anh H cũng thống nhất ly hôn.

Xét thấy mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau...nhưng hôn nhân giữa chị N và anh H không đạt được mục đích đó, vợ chồng không thương yêu, quan tâm, giúp đỡ nhau. Căn cứ quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Mỹ N xử cho chị Lê Thị Mỹ N được ly hôn anh Nguyễn Xuân H để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới tốt đẹp hơn.

[2.2] Về quan hệ con chung: Chị N và anh H có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Bảo C1, sinh ngày 04/01/2011 và cháu Nguyễn Bảo H1, sinh ngày 02/3/2017, xét thấy từ khi chị N đi lao động ở nước ngoài đến nay các con đều ở với anh H, được anh H chăm sóc nuôi dưỡng. Nguyện vọng của chị N, anh H và các con đều muốn ở với anh H. Vì vậy, cần giao cháu Nguyễn Thị Bảo C1 và cháu Nguyễn Bảo H1 cho anh Nguyễn Xuân H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, chị Lê Thị Mỹ N không phải đóng tiền cấp dưỡng và được quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

[2.4] Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị Mỹ N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

[2.5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, 273, 479; 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Mỹ N. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Mỹ N được ly hôn anh Nguyễn Xuân H.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Bảo C1 và cháu Nguyễn Bảo H1 cho anh Nguyễn Xuân H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu C1 và cháu H1 đủ 18 tuổi. Chị Lê Thị Mỹ N không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị Mỹ N, anh Nguyễn Xuân H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

4. Về án phí: Buộc chị Lê Thị Mỹ N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000888 ngày 28/5/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã Kỳ Long;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Bùi Văn Lam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2024/HNGĐ-ST ngày 07/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 86/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị Lê Thị Mỹ N được ly hôn anh Nguyễn Xuân H.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger