Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 86/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07/8-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH

DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lan Hương.
  • Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Ngọc Điệp
  • 2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
  • - Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Minh Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: bà Đặng Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tiến hành phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 172/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 2 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2024/QÐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Phan Thị Hồng N, sinh năm 1973; địa chỉ: Số A, đường L, Khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, yêu cầu giải quyết vắng mặt;
  • - Bị đơn: Ông Võ Thanh P, sinh năm 1974; địa chỉ: Số A, đường L, Khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/02/2024, các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Phan Thị Hồng N trình bày:

Bà Phan Thị Hồng N và ông Võ Thanh P tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương năm 1996.

Thời gian đầu cuộc sống hôn nhân vui vẻ, hạnh phúc nhưng trong quá trình chung sống giữa bà N và ông P phát sinh mâu thuẫn do ông P không có trách nhiệm với cuộc sống gia đình, vợ chồng luôn bất hòa, thường xuyên cãi nhau, đánh nhau. Vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện, tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng ông P không thay đổi. Hiện nay bà N không còn tình cảm vợ chồng với ông P, không có ý định chung sống lại vì hôn nhân không có hạnh phúc. Tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Phan Thị Hồng N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Võ Thanh P.

  • - Về con chung: bà Phan Thị Hồng N và ông Võ Thanh P có 02 con chung tên Võ Duy L, sinh ngày 03/5/1996 và Võ Quốc T, sinh ngày 21/02/2009. Sau khi ly hôn, bà Phan Thị Hồng N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung tên Võ Quốc T. Cháu Võ Duy L đã trên 18 tuổi, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về cấp dưỡng nuôi con: bà N không yêu cầu ông Võ Thanh P cấp dưỡng nuôi con.
  • Về tài sản chung, vay nợ chung: không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một phát biểu tại phiên tòa:

  • - Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung:
  • Về quan hệ hôn nhân: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Phan Thị Hồng N và ông Võ Thanh P đã trầm trọng, không thể hàn gắn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị Hồng N.
  • Về con chung: cháu Võ Quốc T có nguyện vọng sống với mẹ, đề nghị Hội đồng xét xử giao con cho bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Bà N không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con, đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  • Về tài sản chung và nợ chung: đương sự không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng và sự vắng mặt của ông Võ Thanh P và bà Phan Thị Hồng N: theo biên bản xác minh ngày 23/5/2024, Công an phường P cung cấp thông tin ông Võ Thanh P, sinh năm 1974 có hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại địa chỉ số A, đường L, Khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông P tham gia làm việc ghi nhận ý kiến của bị đơn vào ngày 10/6/2024, ngày 14/6/2024, tham phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 19/6/2024; tham gia phiên tòa vào các ngày 19/7/2024, ngày 07/8/2024 nhưng ông Võ Thanh P vắng mặt không có lý do.

Ngày 02/8/2024, bà Phan Thị Hồng N nộp đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự cùng những tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án vắng mặt bà N, ông P.

[2] Về quan hệ hôn nhân: bà Phan Thị Hồng N và ông Võ Thanh P chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, đây là hôn nhân hợp pháp.

Bà Phan Thị Hồng N và ông Võ Thanh P chung sống không hạnh phúc do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng và không quan tâm chăm sóc nhau. Hiện nay bà N không còn tình cảm vợ chồng với ông P, từ chối việc Tòa án hòa giải hàn gắn hạnh phúc gia đình.

Tòa án đã thông báo và triệu tập Võ Thanh P tham gia các phiên làm việc và hòa giải nhằm giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn hạnh phúc gia đình giữa ông P và bà N nhưng ông P vắng mặt không tham gia tố tụng.

Tại biên bản xác minh ngày 03/06/2024, Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T cung cấp thông tin: địa phương không biết nguyên nhân mâu thuẫn dẫn tới ly hôn giữa bà N và ông P vì không nhận được tin báo hay yêu cầu giải quyết.

Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà Phan Thị Hồng N và ông Võ Thanh P đã trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Phan Thị Hồng N yêu cầu ly hôn ông Võ Thanh P có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: bà Phan Thị Hồng N và ông Võ Thanh P có 02 con chung tên Võ Duy L, sinh ngày 03/5/1996 và Võ Quốc T, sinh ngày 21/02/2009. Cháu Võ Duy L đã trên 18 tuổi, bà Phan Thị Hồng N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung tên Võ Quốc T.

Tại đơn trình bày ý kiến ngày 10/6/2024, cháu Võ Quốc T có nguyện vọng sống với bà N. Căn cứ khoản 2, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao con cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: bà N không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét .

[5] Về tài sản chung và vay nợ chung: bà Phan Thị Hồng N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tố tụng và đề nghị về nội dung giải quyết vụ án có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

[7] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: bà Phan Thị Hồng N phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ các Điều 28, 35, 147, 228, 238, 273 và Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ các Điều 19, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 85 và Điều 86 của Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Hồng N về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với bị đơn ông Võ Thanh P.
    1. Về quan hệ hôn nhân: bà Phan Thị Hồng N được ly hôn với ông Võ Thanh P.
    2. Về con chung: bà Phan Thị Hồng N được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Võ Quốc T, sinh ngày 21/02/2009.

    Về cấp dưỡng nuôi con: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Bà Phan Thị Hồng N và ông Võ Thanh P đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, ông Võ Thanh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp ông Võ Thanh P lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà Phan Thị Hồng N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

    Về tài sản chung và vay nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  2. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: bà Phan Thị Hồng N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/24 số 0002478, ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.
  3. Về quyền kháng cáo: bà Phan Thị Hồng N và ông Võ Thanh P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết công khai hoặc tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Dầu Một (để thi hành);
  • - UBND phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một.
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Thị Lan Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2024/HNGĐ-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con.

  • Số bản án: 86/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà N yêu cầu ly hôn với ông P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger