Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Bản án số: 86/2024/HN-PT

Ngày: 29/7/2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Tùng Lâm
Các Thẩm phán: Ông Phan Trịnh Minh Đức
Bà Đoàn Thị Trang

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Viết Nhiên - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ánh Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 29/7/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 32/2024/TLPT-HNGĐ ngày 29/3/2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 1120/2023/HNGĐ-ST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 3244/2024/QĐ-PT ngày 17/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 10787/2024/QĐ-PT ngày 02/7/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy N, sinh năm: 1982 (Có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: B T, phường G, Quận H. Thành phố Hồ Chí Minh.

Đĩa chỉ liên lạc: 464, tổ A, ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

Bị đơn: Ông Lê Đại T, sinh năm: 1978 (Có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: B tổ A, ấp B xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY:

Tóm tắt nội dung và quyết định của bản án sơ thẩm:

* Nguyên đơn - Bà Nguyễn Thị Thúy N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông T chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 95/2010, quyển số 01/2010 ngày 06/8/2010 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2012, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không còn hòa hợp, không cùng quan điểm, bà không còn tình cảm với ông T. Nay bà thấy mục đích hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: có 02 con chung tên Lê Ngọc Quỳnh A, sinh năm 2012 và Lê Hoài A1, sinh năm 2016. 02 con sống chung với ba mẹ tại địa chỉ: B, tổ A, ấp B, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 10 năm 2016. Đến ngày 18/5/2023, bà bỏ về nhà mẹ ruột tại ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang, từ lúc này 02 con, một tuần con trai ở với bà, con gái ở với ông T, tuần sau đổi lại con gái ở với bà, con trai ở với ông T, cứ như vậy mỗi tuần luân phiên thay đổi. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Lê Ngọc Quỳnh A, sinh năm 2012 và Lê Hoài A1, sinh năm 2016 đến trưởng thành. Ông T cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng/con. Bà có đủ điều kiện nuôi 02 con, bà có thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm bà Nguyễn Thị Thúy N bổ sung thêm: Tổng thu nhập của bà là 15.000.000 đồng/tháng theo các Bảng thanh toán tiền lương đã nộp cho Tòa án. Hiện nay 02 con mới nhập học nên ở với ông T, cuối tuần bà lên thăm và chơi với 02 con. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Lê Ngọc Quỳnh A, sinh năm 2012 và Lê Hoài A1, sinh năm 2016 đến trưởng thành. Không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

* Bị đơn - Ông Lê Đại T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà N chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 95/2010, quyển số 01/2010 ngày 06/8/2010 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2012, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông hay góp ý để tốt cho sức khỏe con, ông khuyên gì vợ cũng không nghe và hay cãi lại, nói tục, chửi thề nên bà N nói không còn hòa hợp, không cùng quan điểm do khác biệt vùng miền, ông còn thương vợ và không muốn con thiếu cha mẹ. Nay ông đồng ý ly hôn với điều kiện để 02 con cho ông nuôi và ông không cần bà N cấp dưỡng nuôi con.

Về con chung: có 02 con chung tên Lê Ngọc Quỳnh A, sinh năm 2012 và Lê Hoài A1, sinh năm 2016. 02 con sống chung với ba mẹ tại địa chỉ: B, tổ A, ấp B, xã P, huyện B, TP . từ tháng 10 năm 2016. Đến ngày 18/5/2023, bà N bỏ về nhà mẹ ruột tại ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang trong khi bà N đang bị bệnh trị 5 khoa. Từ lúc này 02 con, một tuần con trai ở với bà N, con gái ở với ông, tuần sau đổi lại con gái ở với bà N, con trai ở với ông, cứ như vậy mỗi tuần luân phiên thay đổi. Ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Lê Ngọc Quỳnh A, sinh năm 2012 và Lê Hoài A1, sinh năm 2016 đến trưởng thành. Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Vì ông có điều kiện về kinh tế, nhà ở, trường học gần nhà và thời gian chăm sóc 02 con. Ông làm kế toán trưởng ngoài giờ cho khoảng 7 công ty, thu nhập khoảng 25 triệu/tháng, ông sẽ làm giấy xác nhận đang hưởng thu nhập gần nhất cung cấp cho Tòa án.

- Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm ông Lê Địa T1 bổ sung thêm: Tổng thu nhập của ông là 21.500.000 đồng/tháng theo các Đơn xin xác nhận thu nhập đã nộp cho Tòa án. Ông cho rằng thu nhập của bà N là 15.000.000 đồng/tháng là không đúng, nhưng ông không có tài liệu, chứng cứ chứng minh, đề nghị Tòa án xác minh thêm.

Bản án sơ thẩm số 1120/2023/HNGĐ-ST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 19, Điều 51, Điều 52, Điều 53, Điều 54, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

X:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Thị Thúy N.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thúy N được ly hôn với Ông Lê Đại T.

Về con chung: Bà N được trực tiếp nuôi con chung tên Lê Hoài A1, sinh năm 2016 đến trưởng thành. Ông T được trực tiếp nuôi con chung tên Lê Ngọc Quỳnh A, sinh năm 2012 đến trưởng thành. Không ai cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thúy N và Ông Lê Đại T xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thúy N và Ông Lê Đại T xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Thị Thúy N đối với yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Ngọc Quỳnh A, sinh năm 2012 đến trưởng thành.

Chấp nhận một phần yêu cầu của Ông Lê Đại T về việc yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Ngọc Quỳnh A, sinh năm 2012 đến trưởng thành. Không chấp nhận một phần yêu cầu của Ông Lê Đại T về việc yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Hoài A1, sinh năm 2016 đến trưởng thành.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích con chung, sau này các đương sự đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 02/01/2024, ông Lê Đại T có đơn kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm số: 1120/2023/HNGĐ-ST ngày 18/12/2023, của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, về việc yêu cầu được quyền được trực tiếp nuôi dưỡng 02(Hai) nuôi con chung Lê Ngọc Quỳnh A, sinh năm 2012, và Lê Hoài A1, sinh năm 2016, vì Tòa sơ thẩm chỉ xem xét cho ông nuôi dưỡng trẻ Lê Ngọc Quỳnh A, mà chưa xem xét xác minh đến điều kiện vật chất: Nhà ở, mức thu nhập, điều kiện tinh thần, điều kiện môi trường sống. Đây là 03 điều kiện cốt lõi để xác định quyền nuôi con của ông. Ông không đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Thúy N vì ông không muốn con thiếu cha, mẹ, không muốn gia đình đổ vỡ, nếu bà N nhất quyết ly hôn, ông sẽ đồng ý ly hôn, với điều kiện ông phải là người trực tiếp được nuôi dưỡng hai con chung Lê Ngọc Quỳnh A, sinh năm 2012, và Lê Hoài A1, sinh năm 2016, ông không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy N có đơn xin xét xử vắng mặt, bà không có ý kiến nào khác.

Bị đơn ông Lê Đại T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông không có ý kiến nào khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán

Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án theo thủ tục phúc thẩm tới thời điểm xét xử, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có thông báo về việc thụ lý vụ án phúc thẩm cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và đương sự.

Căn cứ Điều 290 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định đưa vụ án ra xét xử gửi cho Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và các đương sự.

Hồ sơ vụ án cũng đã được chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp nghiên cứu theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Thực hiện việc tống đạt các Quyết định cho các bên đương sự đầy đủ.

2. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa:

Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 239, 297, 298, 301, 302, 303 và 305 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử phúc thẩm.

3. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự:

Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án theo thủ tục phúc thẩm đến thời điểm này nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 và Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc thực hiện đại diện ủy quyền đúng theo Điều 86 Bộ luật TTDS năm 2015.

II. VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ PHÚC THẨM

1. Về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo:

Bản án dân sự sơ thẩm số 1120/2023/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh được tuyên ngày 18/12/2023.

Ngày 02/01/2024 Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh nhận đơn kháng cáo của bị đơn ông Lê Đại T.

Ngày 28/12/2023 Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh bàn giao bản án sơ thẩm số 1120/2023/HNGĐ-ST ngày 18/12/2023. Ngày 02/01/2024, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh nhận được đơn kháng cáo. Căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì kháng cáo còn trong thời hạn luật định và hợp lệ.

2. Về nội dung kháng cáo:

Bị đơn ông Lê Đại T kháng cáo một phần bản án sơ thẩm số 1120/2023/HNGĐ-ST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc quyền nuôi cả 02 con.

Hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thúy N và ông Lê Đại T là hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được công nhận hôn nhân hợp pháp số 95/2010 ngày 06/8/2010 đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện T, tỉnh Bình Dương (theo bản sao trích lục kết hôn số 1073/TLKH-BS ngày 07/12/2020). Bà N và ông T có 02 con chung tên Lê Ngọc Quỳnh A, sinh ngày 14/4/2012 và Lê Hoài A1, sinh ngày 31/10/2016.

Căn cứ tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ:

Nguồn thu nhập của bà N và nguyện vọng của trẻ Lê Hoài A1 cụ thể: Xét nguồn thu nhập và khả năng để chăm sóc, nuôi dưỡng con của bà N. Căn cứ giấy xác nhận ngày 15/12/2023 của Công ty TNHH M xác nhận bà N là nhân viên ngoài giờ, hợp đồng lao động không xác định thời hạn của công ty từ tháng 05/2023 đến nay với mước lương và phụ cấp là 5.000.000 đồng/ tháng; Giấy xác nhận ngày 15/12/2023 của HKD Danh Toàn P xác nhận bà N là kế toán từ tháng 05/2023 đến nay với mức lương và phụ cấp là 10.000.000 đồng/ tháng. Với tổng thu nhập của bà N là 15.000.000 đồng/ tháng, tại biên bản phiên tòa ngày 13/12/2023 ông T cho rằng thu nhập của bà N là không đúng, nhưng ông T không có tài liệu, chứng cứ, chứng minh là bảng lương do bà N cung cấp là giả. Theo biên bản lấy ý kiến ngày 01/11/2023 tại Tòa án cháu Lê Hoài A1 sinh ngày 31/10/2016 có nguyện vọng được sống chung với mẹ, nếu sau này ở với mẹ không tốt thì con ở với ba. Từ những chứng cứ trên, nhận thấy việc giao trẻ Lê Hoài A1 cho bà N nuôi là có cở sở. Việc không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thúy N với yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Ngọc Quỳnh A là phù hợp.

Nguồn thu nhập của ông T và nguyện vọng của trẻ Lê Ngọc Quỳnh A cụ thể: Xét nguồn thu nhập và khả năng để chăm sóc, nuôi dưỡng con của ông T. Ông T làm kế toán trưởng ngoài giờ, hợp đồng lao động không xác định thời hạn, làm bán thời gian cho 7 Công ty: Công ty TNHH T2, lương 3.500.000 đồng/ tháng; Công ty TNHH S, lương 3.000.000 đồng/ tháng; D, lương 3.000.000 đồng/ tháng; Công ty TNHH T3, lương 3.000.000 đồng/ tháng; Công ty TNHH MTV M1, lương 3.000.000 đồng/ tháng; Công ty TNHH T2, lương 4.000.000 đồng/ tháng; Công ty TNHH T4, lương 2.000.000 đồng/ tháng. Với tổng thu nhập của ông T là 21.500.000 đồng/tháng. Theo biên bản lấy ý kiến lần đầu vào ngày 16/8/2023 tại Tòa án trẻ Lê Ngọc Quỳnh A sinh ngày 14/4/2012 có nguyện vọng sống chung với mẹ, nhưng biên bản lấy ý kiến ngày 01/11/2023 tại Tòa án trẻ Lê Ngọc Quỳnh A có nguyện vọng được sống chung với ba, nếu sau này ở với ba không tốt thì con ở với mẹ. Từ những chứng cứ trên, nhận thấy việc giao trẻ Lê Ngọc Quỳnh A cho ông T nuôi là có cở sở. Việc không chấp nhận một phần yêu cầu của ông Lê Đại T với yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Hoài A1 là phù hợp.

Vì vậy, kháng cáo của bị đơn ông Lê Đại T không có cơ sở để chấp nhận.

Bởi các lẽ trên,

Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên xử:

  • - Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn ông Lê Đại T.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Giữ nguyên nội dung Bản án dân sự sơ thẩm số 1120/2023/HNGĐ-ST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Lê Đại T làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại các điều 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét kháng cáo của ông T, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị đơn ông Lê Đại T kháng cáo một phần bản án sơ thẩm số 1120/2023/HNGĐ-ST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về quyền nuôi cả 02 con chung.

Bà Nguyễn Thị Thúy N và ông Lê Đại T tự nguyện kết hôn năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 95/2010 ngày 06/8/2010 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Bà N và ông T có 02 con chung tên Lê Ngọc Quỳnh A, sinh ngày 14/4/2012 và Lê Hoài A1, sinh ngày 31/10/2016.

Xét nguồn thu nhập và khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con của bà N và nguyện vọng của trẻ Lê Hoài A1: Căn cứ giấy xác nhận ngày 15/12/2023 của Công ty TNHH M xác nhận bà N là nhân viên ngoài giờ, hợp đồng lao động không xác định thời hạn của công ty từ tháng 05/2023 đến nay với mước lương và phụ cấp là 5.000.000 đồng/tháng; Giấy xác nhận ngày 15/12/2023 của HKD Danh Toàn P xác nhận bà N là kế toán từ tháng 05/2023 đến nay với mức lương và phụ cấp là 10.000.000 đồng/tháng. Với tổng thu nhập của bà N là 15.000.000 đồng/tháng, tại biên bản phiên tòa ngày 13/12/2023 ông T cho rằng thu nhập của bà N là không đúng, nhưng ông T không có tài liệu, chứng cứ, chứng minh là bảng lương do bà N cung cấp là giả. Theo biên bản lấy ý kiến ngày 01/11/2023 tại Tòa án trẻ Lê Hoài A1 sinh ngày 31/10/2016 có nguyện vọng được sống chung với mẹ, nếu sau này ở với mẹ không tốt thì con ở với ba. Từ những chứng cứ trên, nhận thấy việc giao trẻ Lê Hoài A1 cho bà N nuôi là có cở sở. Việc không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thúy N với yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Ngọc Quỳnh A là phù hợp.

Xét nguồn thu nhập và khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con của ông T và nguyện vọng của trẻ Lê Ngọc Quỳnh A: Ông T làm kế toán trưởng ngoài giờ, hợp đồng lao động không xác định thời hạn, làm bán thời gian cho 7 Công ty: Công ty TNHH T2, lương 3.500.000 đồng/tháng; Công ty TNHH S, lương 3.000.000 đồng/ tháng; D, lương 3.000.000 đồng/tháng; Công ty TNHH T3, lương 3.000.000 đồng/tháng; Công ty TNHH MTV M1, lương 3.000.000 đồng/tháng; Công ty TNHH T2, lương 4.000.000 đồng/tháng; Công ty TNHH T4, lương 2.000.000 đồng/tháng. Với tổng thu nhập của ông T là 21.500.000 đồng/tháng. Theo biên bản lấy ý kiến lần đầu vào ngày 16/8/2023 tại Tòa án trẻ Lê Ngọc Quỳnh A sinh ngày 14/4/2012 có nguyện vọng sống chung với mẹ, nhưng biên bản lấy ý kiến ngày 01/11/2023 tại Tòa án trẻ Lê Ngọc Quỳnh A có nguyện vọng được sống chung với ba, nếu sau này ở với ba không tốt thì con ở với mẹ. Từ những chứng cứ trên, nhận thấy việc giao trẻ Lê Ngọc Quỳnh A cho ông T nuôi là có cở sở. Việc không chấp nhận một phần yêu cầu của ông Lê Đại T với yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Hoài A1 là phù hợp.

Tại giai đoạn phúc thẩm, ông T cũng không cung cấp thêm chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, do vậy, kháng cáo của bị đơn ông Lê Đại T không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở để chấp nhận.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ các điều 19, 51, 52, 53, 54, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Đại T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 1120/2023/HNGĐ-ST ngày 18/12/2023, của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Thị Thúy N.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thúy N được ly hôn với Ông Lê Đại T.

Về con chung: Bà N được trực tiếp nuôi con chung tên Lê Hoài A1, sinh năm 2016 đến trưởng thành. Ông T được trực tiếp nuôi con chung tên Lê Ngọc Quỳnh A, sinh năm 2012 đến trưởng thành. Không ai cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thúy N và Ông Lê Đại T xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thúy N và Ông Lê Đại T xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Thị Thúy N đối với yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Ngọc Quỳnh A, sinh năm 2012 đến trưởng thành.

Chấp nhận một phần yêu cầu của Ông Lê Đại T về việc yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Ngọc Quỳnh A, sinh năm 2012 đến trưởng thành. Không chấp nhận một phần yêu cầu của Ông Lê Đại T về việc yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Hoài A1, sinh năm 2016 đến trưởng thành.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích con chung, sau này các đương sự đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thúy N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số AA/2023/0019917 ngày 03/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, bà N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Ông Lê Đại T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0033018 ngày 04/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, ông T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.-

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. HCM;
  • - Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, TP. HCM;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, TP. HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Tùng Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2024/HN-PT ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 86/2024/HN-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà và ông T chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 95/2010, quyền số 01/2010 ngày 06/8/2010 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2012, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không còn hòa hợp, không cùng quan điểm, bà không còn tình cảm với ông T.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger