Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẤP VÒ

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2024/DS-ST

Ngày: 28 - 8 - 2024

V/v tranh chấp dân sự về

hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất – thực

hiện nghĩa vụ do người

chết để lại - Tranh chấp

chia thừa kế tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Nội.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Chung Thị Thu Nguyệt
  2. Ông Nguyễn Vạn Thế.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 46/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp dân sự về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất – thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại - Tranh chấp chia thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 192/2024/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 143/2024/QĐST-DS ngày 16/8/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Nguyễn Phú T, sinh năm 1962; Địa chỉ: Số F, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1948; Địa chỉ: Số B, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
  3. Bà Nguyễn Thị E (Bé E1), sinh năm 1953; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang.
  4. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1959; Địa chỉ: Số D, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
  5. Bà Nguyễn Thị Bé N, sinh năm 1959; Địa chỉ: Số C, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Trí H, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số A, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1979.
  2. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1974.
  3. Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1972.
  4. Cùng dịa chỉ: Số E, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

  5. Chị Trần Thảo Đ, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số A, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Ý kiến của các đồng nguyên đơn trình bày: Cha của các đồng nguyên đơn tên Nguyễn Văn V (chết năm 2021) và mẹ là Phan Thị N1 (chết năm 2012), cha mẹ có tất cả 8 người con, bao gồm: Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị E (tên thường gọi là Bé E1), Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị Bé N, Nguyễn Phú T, Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn M và Nguyễn Ngọc L. Cha Nguyễn Văn V được UBND huyện T (nay là huyện L) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 584255, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 08379 QSDĐ/121QĐUB ngày 22/10/1991 có diện tích 5.500m² loại đất lúa, thuộc thửa đất số 352, tờ bản đồ số 6, đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Vào ngày 20/12/2020, cụ V có làm Hợp đồng cho ông T thuê thửa đất trên của cha với giá là 26.000.000 đồng, thời hạn là 02 năm kể từ ngày ký Hợp đồng. Ông T mới làm được 01 mùa lúa thì cụ V lấy lại để chuyển nhượng cho anh Nguyễn Trí H diện tích là 5.500m² với giá là 580.000.000 đồng, nhưng anh H chỉ mới đưa trước 330.000.000 đồng còn lại 250.000.000 đồng thì thỏa thuận khi nào sang tên xong sẽ đưa đủ, nhưng anh H đã nhận đất canh tác từ đó cho đến nay.

Sau khi xảy ra tranh chấp do anh H khởi kiện yêu cầu tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng đất thì khi Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L tiến hành đo đạc thực tế diện tích đất thực tế của cụ V là 6.600m² chứ không phải là 5.500m² như trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp (chênh lệch dư là 1.100m²). Việc diện tích đất tăng hơn 1.100m² so với diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do khi cấp giấy năm 1991 cụ V tự đo bằng tầm và tự khai diện tích nên không chính xác, nay đo đạc bằng máy là chính xác. Còn về vị trí, mốc giới của thửa đất không thay đổi, không có sự lấn chiếm, không có tranh chấp với các hộ liền kề và không có khai mở thêm. Sau đó, anh H đã rút lại đơn khởi kiện để thỏa thuận với những người thừa kế của cụ V nhưng không thỏa thuận được bởi vì anh H đã làm khống giấy tờ mua bán ghi lại diện tích là 6.600m² theo như đo đạc lại nên các đồng nguyên đơn không đồng ý, diện tích 6.600m² này chỉ xuất hiện khi Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L tiến hành đo đạc khi anh H khởi kiện và giao sơ đồ mới biết diện tích thực tế là 6.600m² nên anh H mới căn cứ vào đó để ghi thêm diện tích vào trong giấy mua bán. Như vậy, trong quá trình mua bán đã chênh chệch 1.100m² so với việc giao dịch mua bán giữa cụ V và H. Vì vậy, các đồng nguyên đơn yêu cầu anh H phải có nghĩa vụ trả số tiền cho diện tích đất chêch lệch tăng lên 1.100m² là 100.000.000 đồng.

Như vậy, hiện tại tổng số tiền anh H còn nợ lại trong việc mua bán trên là 350.000.000 đồng (trong đó, 250.000.000 đồng tiền thỏa thuận trong hợp đồng chuyển nhượng anh H chưa thanh toán + 100.000.000 đồng tiền diện tích đất chuyển nhượng chênh lệch).

Khi cụ V chuyển nhượng diện tích đất trên cho anh H thì ông L và ông M đã trực tiếp nhận số tiền anh H đưa trước là 330.000.000 đồng, mặc dù số tiền chuyển nhượng 330.000.000 đồng anh H đưa khi cụ V còn sống, nhưng ông L, ông M và ông A nhận về đã tự chia cho những người có tên sau đây: Nguyễn Văn A là 55.000.000 đồng; Nguyễn Ngọc L là 105.000.000 đồng; Nguyễn Thị B: 10.000.000 đồng; Nguyễn Thị E (tên thường gọi là Bé E1) là 10.000.000 đồng; Nguyễn Thị T1 là 13.000.000 đồng và 04 chỉ vàng 24k vàng thị trường (trị giá 18.000.000 đồng); Nguyễn Văn M là 119.000.000 đồng. Còn số tiền cụ V nhận khi cho ông T thuê đất nhưng sau không cho thuê nữa thì cụ V chưa trả lại cho ông T.

Nay vợ chồng anh H, chị Đ yêu cầu tiếp tục thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đồng ý trả số tiền còn nợ lại trong Hợp đồng chuyển nhượng giữa cụ Nguyễn Văn V và anh Nguyễn Trí H là 250.000.000 đồng và trả thêm số tiền đất chênh lệch dư là 100.000.000 đồng, tổng cộng là 350.000.000 đồng thì các đồng nguyên đơn đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà cụ V đã chuyển nhượng cho vợ chồng anh H và chị Đ.

Số tiền chuyển nhượng đất là 680.000.000 đồng, thì giao cho ông T số tiền 26.000.000 đồng tiền thuê đất mà cha là cụ V đã nhận của ông T, số tiền còn lại 654.000.000 đồng. Do cụ V và cụ N chết không để lại di chúc do đó yêu cầu chia theo pháp luật số tiền này thành 08 phần bằng nhau, mỗi người sẽ nhận 81.750.000 đồng. Tuy nhiên, do ông Nguyễn Văn A đã nhận số tiền là 55.000.000 đồng; ông Nguyễn Ngọc L đã nhận số tiền là 105.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị B đã nhận số tiền 10.000.000 đồng; Bà Nguyễn Thị E (tên thường gọi là Bé E1) đã nhận số tiền là 10.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị T1 là 13.000.000 đồng và 04 chỉ vàng 24k vàng thị trường (trị giá 18.000.000 đồng), tổng cộng là 31.000.000 đồng; ông Nguyễn Văn M đã nhận số tiền là 119.000.000 đồng khi cha là cụ V còn sống nên được xem như cha đã chia phần cho ông A, ông M, ông L, bà B, bà E1 và bà T1. Do đó, nay các đồng nguyên đơn yêu cầu Tòa án chia số tiền chuyển nhượng đất còn lại của cụ V số tiền là 324.000.000 đồng cho 05 nguyên đơn, mỗi người được hưởng số tiền là 64.800.000 đồng . Trường hợp Tòa án xử chia số tiền còn lại làm 08 phần có phần của ông L, ông M và ông A thì do ông L, ông T và ông A không có mặt và không có yêu cầu nên đồng ý giao cho ông T tạm giữ số tiền này.

- Ý kiến của bị đơn anh Nguyễn Trí H trình bày: Vào ngày 14/02/2021, cụ Nguyễn Văn V và các con là Nguyễn Văn M (tên thường gọi là H1), Nguyễn Văn A và Nguyễn Ngọc L có thỏa thuận chuyển nhượng diện tích là 6.600m² thuộc thửa đất thửa đất số 352, tờ bản đồ số 6, đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, đất do cụ Nguyễn Văn V đứng tên vào ngày 22/10/1991 cho vợ chồng anh Nguyễn Trí H, Trần Thảo Đ với giá thỏa thuận là 580.000.000 đồng. Việc thỏa thuận chuyển nhượng hai bên có làm tờ hợp đồng mua bán, tờ mua bán do ông M viết có cụ V và các con là Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn A và Nguyễn Ngọc L cùng ký tên và có 02 người làm chứng là Hình Ngọc T2 (anh rễ của ông M) và Nguyễn Thanh T3 (anh ruột của anh H) ký tên làm chứng. Sau khi ký hợp đồng thì anh H đưa tiền cọc là 30.000.000 đồng và hẹn 10 ngày sau sẽ đưa thêm 170.000.000 đồng, số tiền còn lại sẽ đưa khi hoàn tất việc sang tên. Khi đưa cọc có tất cả những người có mặt nêu trên ký tên, ông Nguyễn Văn M là người trực đếm tiền và đưa lại cho ông V. Khi ký hợp đồng thì do đất ông T đang canh tác đất nên khi ông T làm hết vụ lúa thì đưa lại cho anh H canh tác cho đến nay. Việc giao đất các bên không tiến hành đo đạc mà giao toàn bộ thửa đất trong phạm vi bờ ruộng có sẵn nên không biết diện tích thực tế là bao nhiêu. Đến ngày 01/3/2021, anh H đưa thêm 30.000.000 đồng nên hai bên đã làm tờ “Hợp đồng nhận tiền bán đất thêm” và ghi tổng cộng trước sau là 230.000.000 đồng và hẹn 10 ngày ra công chứng, tờ hợp đồng có ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Ngọc L, ông Nguyễn Văn A và cụ Nguyễn Văn V ký tên nhận, có mặt ông Nguyễn Thanh H2 là công an thị trấn L chứng kiến ký tên. Đến ngày 08/3/2021, anh H đưa tiếp cho cụ V và ông M nhận tiếp số tiền là 100.000.000 đồng, khi giao tiền có ông M ký nhận và ông Nguyễn Thanh H2 làm chứng. Như vậy, anh H đã đưa tổng cộng số tiền chuyển nhượng là 330.000.000₫ (Ba trăm ba mươi triệu đồng) tiền chuyển nhượng và còn nợ lại số tiền là 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng) thỏa thuận khi nào ra công chứng xong sẽ đưa 220.000.000 đồng, còn 30.000.000 đồng còn lại thì vợ chồng anh H sẽ trả đủ khi nhận được bằng khoán. Khi anh H giao số tiền 330.000.000 đồng thì cụ V còn sống và nhận tiền nhưng sau đó cụ V bị bệnh và chết nên chưa kịp làm thủ tục sang tên cho anh H được. Nay cụ Nguyễn Văn V đã chết nên anh H yêu cầu những người thừa kế của cụ V gồm: Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị E, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị Bé N, Nguyễn Phú T, Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn M và Nguyễn Ngọc L phải có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang tên cho vợ chồng anh H được đứng tên toàn bộ diện tích đất đã chuyển nhượng tại thửa đất số 352, tờ bản đồ số 6, đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, đất do cụ Nguyễn Văn V đứng tên vào ngày 22/10/1991 và anh H có nghĩa vụ giao lại cho những người thừa kế số tiền chuyển nhượng còn thiếu là 250.000.000 đồng. Hiện nay, bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích đất chuyển nhượng thửa 352 do anh Nguyễn Văn M đang giữ.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu anh H phải có nghĩa vụ trả thêm số tiền chênh lệch đất diện tích 1.100m² với số tiền 100.000.000 đồng thì anh H có ý kiến như sau: Vào ngày 14/02/2021, khi làm tờ Hợp đồng đồng mua bán đất thì ông Nguyễn Văn M là người viết tờ hợp đồng và đã ghi rõ diện tích đất chuyển nhượng là 6.600m² là ghi theo diện tích đất thực tế, đến ngày 01/3/2021 khi giao thêm tiền thì ghi diện tích là 5.500m² là ghi theo diện tích trong giấy. Mặc dù, diện tích đất ghi trong hai tờ giấy chuyển nhượng có khác nhau nhưng hai bên thỏa thuận là chuyển nhượng toàn bộ thửa đất với số tiền chuyển nhượng là 580.000.000 đồng. Khi giao đất không có tiến hành đo đạc thực tế mà anh H chỉ nhận đất trong phạm vi thửa đất đã có bờ ruộng có sẵn và sử dụng cho đến nay. Hai bên cũng không thỏa thuận diện tích nếu đo đạc thực tế bị thiếu hay bị dư so với giấy được cấp thì bên cụ V hoàn trả tiền lại hay phía anh H phải trả tiền thêm. Nên nếu phần đất của anh H nhận chuyển nhượng bị thiếu thì anh H cũng phải chịu còn dư thì anh H được hưởng.

Nay anh H yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đồng thời, anh H sẽ giao cho những người thừa kế của cụ V số tiền còn lại trong hợp đồng là 250.000.000 đồng và đồng ý giao thêm cho những người thừa kế của cụ V số tiền 100.000.000 đồng, tổng cộng là 350.000.000₫ (Ba trăm năm mươi triệu đồng) theo như yêu cầu của các nguyên đơn.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thảo Đ trình bày: Chị Đ là vợ của anh Nguyễn Trí H, chị Đ thống nhất lời trình bày và yêu cầu của anh H, không bổ sung gì thêm.

- Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm và Thư ký phiên toà từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định đúng quan hệ tranh chấp và tư cách đương sự trong vụ án. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà.

Về giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trông hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, xét thấy:

- Nguyên đơn là những người thừa kế của cụ Nguyễn Văn V (chết ngày 05/8/2021) và bị đơn là anh Nguyễn Trí H đều xác nhận khi cụ V còn sống có thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất số 352, tờ bản đồ số 6. Sau khi thỏa thuận chuyển nhượng thì cụ V đã giao đất cho anh H quản lý sử dụng từ đó cho đến nay. Giá chuyển nhượng thỏa thuận là 580.000.000 đồng và anh H đã đưa trước số tiền là 330.000.000 đồng, còn lại 250.000.000 đồng thì chưa thanh toán. Việc thỏa thuận chuyển nhượng của các bên là thửa đất số 352, tờ bản đồ số 6, diện tích trên giấy là 5.500m² (đất lúa), theo sơ đồ tranh chấp diện tích thực tế là 6.451,8m². Sau khi thỏa thuận chuyển nhượng thì đất được giao cho anh H quản lý sử dụng và sử dụng toàn bộ thửa đất trên. Nay các nguyên đơn yêu cầu anh H và chị Đ trả thêm số tiền tổng cộng là 350.000.000 đồng mới đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng thì vợ chồng anh H đồng ý trả số tiền trên. Mặc dù, các bên giao kết chưa tuân thủ về hình thức của hợp đồng chuyền nhượng quyền sử dụng đất, nhưng theo quy định tại khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự 2015 quy định “Giao dịch dân sự được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực". Do đó công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất và ông H phải trả thêm cho hàng thừa kế của ông V số tiền là 350.000.000 đồng.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc giao cho ông T số tiền 26.000.000 đồng tiền thuê đất mà cụ V đã nhận của ông T, số tiền còn lại thì yêu cầu Tòa án chia thành 05 phần bằng nhau cho 05 nguyên đơn, nhận thấy:

Đối với số tiền 330.000.000 đồng mà ông H giao trước đó, thời điểm này cụ V còn sống, số tiền 330.000.000 đồng trên ông V đã chia cho các con cụ V, do đó không có cơ sở đề xem xét chia số tiền 330.000.000 đồng này theo yêu cầu của các nguyên đơn. Do đó, chỉ có căn cứ để xác nhận số tiền chuyển nhượng đất chỉ còn lại là 350.000.000 đồng mà ông H sẽ trả tiếp. Tuy nhiên, hàng thừa kế của cụ V ngoài 05 nguyên đơn thì con có 03 người con khác là ông Nguyễn Ngọc L, ông Nguyễn Văn A và ông Nguyễn Văn M, tổng cộng là 08 người. Quá trình giải quyết vụ án ông L, ông M và ông A đã vắng mặt, Tòa án có thông báo kết quả phiên họp kiểm tra, công khai chứng cứ cho những người này biết nhưng họ không có ý kiến. Từ đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về số tiền cụ V phải trả cho ông T là 26.000.000 đồng. Còn lại 324.000.000 đồng thì chia làm 08 phần bằng nhau cho các đồng nguyên đơn. Còn phần của ông L, ông M và ông A do vắng mặt nên tạm giao cho ông T quản lý.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 129, Điều 650 và Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015. Chấp nhận một phần yêu cầu của các nguyên đơn. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (theo hợp đồng mua bán đất ngày 14/02/2021) giữa cụ Nguyễn Văn V với anh Nguyễn Trí H. Ông H phải có nghĩa vụ trả cho hàng thừa kế của cụ V số tiền 350.000.000 đồng. Ông T được nhận số tiền thuê đất là 26.000.000 đồng, còn lại 324.000.000 đồng chia thừa kế cho 08 phần, 05 nguyên đơn mỗi người một phần, 03 phần còn lại của ông L, ông M và ông A tạm giao cho ông T quản lý.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Phát biểu của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do cụ Nguyễn Văn V (đã chết) chuyển nhượng cho anh Nguyễn Trí H, yêu cầu trả số tiền thuê đất và yêu cầu chia thừa kế số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh chấp dân sự về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất – thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại - Tranh chấp chia thừa kế tài sản”. Tài sản tranh chấp là bất động sản tại huyện L do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bà Nguyễn Thị E có đơn xin vắng mặt tại phiên toà. Ông Nguyễn Ngọc L, ông Nguyễn Văn M và ông Nguyễn Văn A vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do. Do đó, áp dụng Điều 227, Điều 228 tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự nêu trên.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Nguyễn Văn V với anh Nguyễn Trí H:

[2.1.1] Các đồng nguyên đơn và bị đơn thống nhất, cụ Nguyễn Văn V có làm giấy viết tay chuyển nhượng cho vợ chồng anh Nguyễn Trí H và chị Trần Thảo Đ thửa đất số 352, tờ bản đồ số 6, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 5.500m², mục đích sử dụng là đất lúa tại xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp được UBND huyện T (nay là huyện L) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Nguyễn Văn V vào ngày 22/10/1991 với giá chuyển nhượng là 580.000.000 đồng và phía anh H đã giao trước cho cụ V số tiền chuyển nhượng đất là 330.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền là 250.000.000 đồng chưa giao. Đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh được quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Như vậy, có căn cứ xác định giữa cụ Nguyễn Văn V và vợ chồng anh Nguyễn Trí H có thỏa thuận chuyển nhượng diện tích đất tại thửa đất số 352, tờ bản đồ số 6, tại xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp được UBND huyện T (nay là huyện L) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Nguyễn Văn V vào ngày 22/10/1991 là có thật và số tiền cụ V đã nhận là 330.000.000 đồng.

[2.1.2] Về hình thức và điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Khi thỏa thuận chuyển nhượng thì diện tích đất đã được UBND huyện T (nay là huyện L) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Nguyễn Văn V vào ngày 22/10/1991, thuộc thửa đất số 352, tờ bản đồ số 6, đất tọa lạc tại xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Phần diện tích đất này không vi phạm điều kiện thực hiện việc chuyển nhượng đất theo quy định tại Điều 188 Luật đất đai năm 2013. Tuy nhiên, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ V và anh H không được lập theo mẫu và không được công chứng, chứng thực là vi phạm về hình thức của hợp đồng quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 117; Điều 502 Bộ luật dân sự. Do đó, theo quy định tại Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 thì hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên, các đương sự trong vụ án không ai yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu mà yêu cầu Tòa án tiếp tục công nhận hợp đồng có hiệu lực. Như vậy, các đương sự không có tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà đều yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực pháp luật. Xét yêu cầu của các đương sự là phù hợp pháp luật nên chấp nhận.

[2.1.3] Về số tiền chuyển nhượng đất: Tại phiên tòa phía nguyên đơn yêu cầu anh H và chị Đ phải có nghĩa vụ giao tiếp cho những người thừa kế của nguyên đơn số tiền chuyển nhượng đất còn lại là 350.000.000 đồng và phía anh H và chị Đ cũng đồng ý trả số tiền chuyển nhượng cho những người thừa kế của cụ V là 350.000.000 đồng là phù hợp nên chấp nhận.

[2.1.4] Từ những phân tích nêu trên xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ do đó xử công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ V với anh H và chị Đ. Ghi nhận sự tự nguyện của anh H và chị Đ giao cho những người thừa kế của cụ V số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn lại là 350.000.000₫ (Ba trăm năm mươi triệu đồng).

[2.2] Xét yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn:

[2.2.1] Thời điểm mở thừa kế, hàng thừa kế: Cha của các đồng nguyên đơn tên Nguyễn Văn V (chết năm 2021) và mẹ là Phan Thị N1 (chết năm 2012). Cụ V và cụ N1 có tất cả 08 người con, bao gồm: Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị E (tên thường gọi là Bé E1), Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị Bé N, Nguyễn Phú T, Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn M và Nguyễn Ngọc L. Cha mẹ của các cụ đã chết từ lâu và các cụ không có con nuôi nào khác. Cụ V chết năm 2021 và cụ N chết năm 2012, cụ V và cụ N chết không để lại di chúc. Tính đến thời điểm các đồng nguyên đơn nộp đơn khởi kiện ngày 25/12/2023 thì vẫn còn thời hiệu khởi kiện để chia di sản thừa kế theo pháp luật quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ V và cụ N tính đến thời điểm mở thừa kế theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự gồm: Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị E (tên thường gọi là Bé E1), Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị Bé N, Nguyễn Phú T, Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn M và Nguyễn Ngọc L là 08 kỷ phần thừa kế

[2.2.2] Về di sản thừa kế: Các đồng nguyên đơn đều thừa nhận, khi còn sống cụ V và cụ N có tạo lập được các diện tích đất gồm đất ở, đất vườn và đất ruộng nhưng các đương sự chỉ tranh chấp yêu cầu chia thừa kế đối với số tiền mà cụ V đã chuyển nhượng cho vợ chồng anh H và chị Đ là diện tích đất được UBND huyện T (nay là huyện L) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 584255, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 08379 QSDĐ/121QĐUB ngày 22/10/1991 có diện tích 5.500m² (đo đạc thực tế là 6.451,8m²) loại đất lúa, thuộc thửa đất số 352, tờ bản đồ số 6, đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Còn các diện tích đất và tài sản khác thì không yêu cầu Tòa án giải quyết chia trong vụ án này. Xét thấy đây là sự tự định đoạt của các đương sự được quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2.2.3] Thửa đất này cụ V, ông L, ông M và ông Văn A đã thỏa thuận chuyển nhượng cho vợ chồng anh H và đã nhận số tiền chuyển nhượng là 330.000.000 đồng nhưng chưa làm thủ tục sang tên xong cho vợ chồng anh H thì cụ V chết. Nay vợ chồng anh H đồng ý giao tiếp cho những người thừa kế của cụ V, cụ N số tiền còn lại là 350.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền chuyển nhượng đất là 680.000.000 đồng và hiện nay còn 350.000.000 đồng anh H chưa giao.

[2.2.4] Căn cứ vào hợp đồng v/v thuê đất nông nghiệp đề ngày 20/12/2020, thể hiện cụ V có cho ông T thuê đất thời hạn là 02 năm từ ngày 20/01/2021 đến ngày 21/01/2023 với giá là 26.000.000 đồng, ông T đã giao đủ số tiền thuê đất và nhận đất canh tác. Tuy nhiên, theo như các đồng nguyên đơn trình bày thì sau khi cụ V cho thuê đất ông T mới bắt đầu canh tác thì vào ngày 14/02/2021 cụ V đã thỏa thuận chuyển toàn bộ phần đất cho thuê cho anh H nên cụ V đã hủy hợp đồng thuê với ông T, buộc ông T trả lại đất để cụ V giao đất cho vợ chồng anh H và cụ V sẽ trả lại số tiền thuê đất cho ông T là 26.000.000 đồng nhưng đến nay cụ V chưa trả tiền cho ông T. Lời trình bày của các nguyên đơn phù hợp với lời trình bày của anh H là “khi ký hợp đồng thì do đất ông T đang canh tác đất nên khi ông T làm hết vụ lúa thì đưa lại cho anh H canh tác cho đến nay”. Như vậy, có căn cứ xác định trước khi cụ V chuyển nhượng diện tích đất tại thửa 352 cho vợ chồng anh H thì cụ V đã cho ông T thuê đất, khi ông T canh tác được một vụ thì cụ V đã lấy lại đất và chưa trả lại tiền thuê đất cho ông T. Do đó, nay các đồng nguyên đơn thống nhất số tiền chuyển nhượng đất còn lại của cụ V là 350.000.000 đồng sẽ được trừ vào số tiền mà cụ V nhận khi cho thuê đất là 26.000.000đ để trả cho ông T nên còn 324.000.000 đồng là di sản thừa kế của cụ V và cụ N là phù hợp với Điều 615 Bộ luật dân sự nên chấp nhận.

[2.2.5] Tại phiên tòa ông T, bà T1, bà N và bà B cho rằng số tiền chuyển nhượng khi còn sống cụ V đã nhận là 330.000.000 đồng thì cụ V đã chia cho ông Nguyễn Văn A đã nhận số tiền là 55.000.000 đồng; ông Nguyễn Ngọc L đã nhận số tiền là 105.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị B đã nhận số tiền 10.000.000 đồng; Bà Nguyễn Thị E (tên thường gọi là Bé E1) đã nhận số tiền là 10.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị T1 là 13.000.000 đồng và 04 chỉ vàng 24k vàng thị trường (trị giá 18.000.000 đồng), tổng cộng là 31.000.000 đồng; ông Nguyễn Văn M đã nhận số tiền là 119.000.000 đồng. Nay thống nhất số tiền này đã chia khi cụ V còn sống nên thống nhất giao cho họ được tiếp tục quản lý sử dụng. Nay các nguyên đơn chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết chia số tiền còn lại mà anh H giao là 324.000.000 đồng là di sản của cụ V và cụ N thì chia làm 05 phần cho 05 nguyên đơn.

Xét thấy: Các đồng nguyên đơn và anh H đều thừa nhận số tiền chuyển nhượng 330.000.000 đồng, anh H giao cho cụ V khi cụ V còn sống và đã chia cho các đương sự nêu trên khi cụ V còn sống. Như vậy, các đồng nguyên đơn cho rằng yêu cầu chia thừa kế đối với số tiền nay là không phù hợp pháp luật.

Tại Điều 612 BLDS năm 2015 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”. Theo đó, di sản chính là các tài sản (động sản và bất động sản) thuộc sở hữu của người để lại thừa kế lúc họ còn sống.

Như vậy, chỉ có căn cứ chia thừa kế số tiền là 324.000.000₫ (350.000.000 đồng – 26.000.000 đồng), là di sản thừa kế của cụ V và cụ N. Do cụ V chết không để lại di chúc nên chia theo pháp luật cho 08 phần thừa kế, mỗi phần 40.500.000 đồng mới là phù hợp. Đối với ông L, ông M và ông Văn A vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến của mình về di sản của cụ V và cụ N. Tuy nhiên, ông L, ông M và ông A đều thuộc hàng thừa kế của cụ V không thuộc trường hợp không được hưởng thừa kế tài sản của cha mẹ để lại nên họ vẫn có quyền được hưởng. Tại phiên tòa ông T đồng ý sẽ tạm giữ số tiền này của ông L, ông M và ông A nên Hội đồng xét xử tạm giao cho ông T tạm giữ số tiền mà ông L, ông M và ông A được chia là phù hợp với Án lệ số 06/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

[3] Về chi phí thẩm định thửa đất là 400.000 đồng, ông T tự nguyện chịu đã nộp và chi xong.

[4] Về án phí: Anh Nguyễn Trí H và chị Trần Thảo Đ phải chịu số tiền án phí trả tiền cho những người thừa kế của cụ V là 17.500.000 đồng (350.000.000₫ x 5%) theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các đồng nguyên phải chịu số tiền án phí chia thừa kế trên số tiền được hưởng. Tuy nhiên, do các đồng nguyên đơn là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí. Do đó, căn cứ vào Điều 12 và Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí cho các đồng nguyên đơn.

[5] Lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chung số tiền là 4.000.000đ theo quy định tại khoản 2 Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự ông T phải chịu. Số tiền này ông T đã nộp và chi xong.

[6] Xét lời trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà ngày hôm nay là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 157, Điều 158, khoản 2 Điều 180, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sựCăn cứ vào Điều 65, khoản 2 Điều 117, Điều 129, Điều 500, Điều 502, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 615, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660 của Bộ luật Dân sự; 06/2016/AL; Điều 12, Điều 15, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Công nhận sự thỏa thuận của các đồng nguyên đơn với anh Nguyễn Trí H và chị Trần Thảo Đ như sau:

1.1. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Nguyễn Văn V với anh Nguyễn Trí H được lập ngày 14/02/2021 có hiệu lực pháp luật.

1.2. Giao cho anh Nguyễn Trí H và chị Trần Thảo Đ được tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích đất đo đạc thực tế là 6.451,8m² mục đích sử dụng là đất 2L trong phạm vi các mốc M1, M2, M3, M4, M5 về M1 theo sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 12/7/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất huyện L thuộc thửa đất số 352, tờ bản đồ 6, đất tọa lạc tại xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp được UBND huyện T (nay là huyện L) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Nguyễn Văn V (đã chết) ngày 22/10/1991.

1.3. Anh Nguyễn Trí H và chị Trần Thảo Đ có nghĩa vụ giao cho những người thừa kế của cụ Nguyễn Văn V và cụ Phan Thị N1 bao gồm Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị E (tên thường gọi là Bé E1), Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị Bé N, Nguyễn Phú T số tiền chuyển nhượng đất còn nợ là 350.000.000₫ (Ba trăm năm mươi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

1.4. Anh Nguyễn Trí H và chị Trần Thảo Đ được quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động đất đai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích đất trên theo quy định của pháp luật về đất đai.

(Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò và Sơ đồ đo đạc ngày 12/7/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L).

2. Về yêu cầu chia thừa kế và thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại. Chấp nhận một phần yêu cầu của các đồng nguyên đơn như sau:

Số tiền 350.000.000₫ (Ba trăm năm mươi triệu đồng) anh Nguyễn Trí H và chị Trần Thảo Đ giao cho những người thừa kế của cụ V thì được chia như sau:

2.1. Giao cho ông Nguyễn Phú T số tiền nhận thuê đất mà cụ V nợ là 26.000.000₫ (Hai mươi sáu triệu đồng).

2.2. Giao cho bà Nguyễn Thị B được hưởng kỷ phần thừa kế là 40.500.000đ (Bốn mươi triệu năm trăm nghìn đồng).

2.3. Giao cho bà Nguyễn Thị E (tên thường gọi là Bé E1) được hưởng kỷ phần thừa kế là 40.500.000đ (Bốn mươi triệu năm trăm nghìn đồng).

2.4. Giao cho bà Nguyễn Thị T1 được hưởng kỷ phần thừa kế là 40.500.000₫ (Bốn mươi triệu năm trăm nghìn đồng).

2.5. Giao cho bà Nguyễn Thị Bé N được hưởng kỷ phần thừa kế là 40.500.000₫ (Bốn mươi triệu năm trăm nghìn đồng).

2.6. Giao cho ông Nguyễn Phú T được hưởng kỷ phần thừa kế là 40.500.000đ (Bốn mươi triệu năm trăm nghìn đồng).

2.7. Đối với kỹ phần hưởng thừa kế của ông Nguyễn Văn A, ông Nguyễn Văn M và ông Nguyễn Ngọc L tổng cộng là 121.500.000đ (Một trăm hai mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng) giao cho ông Nguyễn Phú T tạm quản lý.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

3.1. Anh Nguyễn Trí H và chị Trần Thảo Đ có nghĩa vụ nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 17.500.000đ (Mười bảy triệu năm trăm nghìn đồng).

3.2. Bà Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị E, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị Bé N, ông Nguyễn Phú T được miễn nộp tiền tạm ứng án phí do là người cao tuổi.

4. Về chi phí tố tụng: Số tiền xem xét, thẩm định tại chỗ 400.000₫ (Bốn trăn nghìn đồng) ông Nguyễn Phú T đồng ý nộp. Số tiền này đã nộp và chị xong.

5. Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chung số tiền là 4.000.000đ ông Nguyễn Phú T phải chịu. Số tiền này ông T đã nộp và chi xong.

6. Các đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng đương sự vắng mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niên yết.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Đồng Tháp;

- VKSND H.Lấp Vò;

- Chi cục THADS H.Lấp Vò;

- Các đương sự;

- Lưu: VP- Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phan Văn Nội

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2024/DS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất – thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại - tranh chấp chia thừa kế tài sản.

  • Số bản án: 86/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất – thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại - Tranh chấp chia thừa kế tài sản.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger