TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH Bản án số: 86/2024/DS-ST Ngày: 21-5-2024 V/v tranh chấp Hợp đồng góp hụi. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Văn Cương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thay;
- Ông Tống Đức Hưởng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Sử Ngọc Quân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Đại Phụng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 91/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp Hợp đồng góp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị T, sinh năm 1963; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
- Bị đơn: Bà Phan Thị M, sinh năm 1974; nơi cư trú: Tổ G, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, (hiện nay đang chấp hành án tại Trại Giam X, thuộc Cục C Bộ C1), vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 16/02/2024, cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phan Thị T trình bày:
Nguyên trước đây từ năm 2019 đến năm 2022, bà T có tham gia 02 phần hụi trong 02 dây hụi do bà Phan Thị M làm chủ hụi. Cụ thể như sau:
- Dây hụi 1.000.000 đồng bà T tham gia 01 phần, số hụi viên tham gia là 24 phần và bà T đã góp tiền cho bà M 23 kỳ/23 tháng, bắt đầu khui từ ngày 14/01/2020 dương lịch (ngày 20/12/2019 âm lịch), kết thúc vào ngày 22/03/2022 dương lịch (ngày 20/02/2022 âm lịch). Trong năm 2021 có tạm ngưng 04 tháng không góp hụi do dịch bệnh covid-19 từ tháng 6 đến tháng 9 âm lịch. Theo thỏa thuận bà T là người lãnh hụi cuối cùng, bà M phải đăng tiền hụi cho bà T vào ngày 01/4/2022 dương lịch (ngày 01/03/2022 âm lịch) với số tiền là: 1.000.000 đồng x 23 kỳ x 01 phần = 23.000.000 đồng, nhưng bà M không đăng tiền hụi cho bà T đúng theo thuận.
- Dây hụi 2.000.000 đồng, bà T tham gia 01 phần, số hụi viên tham gia là 20 phần và bà T đã góp tiền cho bà M 05 kỳ/05 tháng bắt đầu khui từ ngày 19/06/2021 dương lịch (ngày 10/05/2021 âm lịch). Trong năm 2021 có tạm ngưng 04 tháng không góp hụi do dịch bệnh covid-19 từ tháng 6 đến tháng 9 âm lịch. Số tiền bà T góp cho bà M tính cả tiền gốc đã góp và tiền lãi hụi là: 2.000.000 đồng x 5 kỳ x 1 = 10.000.000 đồng.
Tổng số tiền hụi bà M nợ bà T tính cả tiền gốc và tiền lãi hụi là: 33.000.000 đồng. Đến tháng 03/2022, bà M tuyên bố bể hụi, không có khả năng chi trả. Hiện tại bà Phan Thị M đang đi chấp hành án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo Bản án số: 95/2023/115 ST ngày 22/12/2021 của Tòa án Nhân dân tỉnh Tây Ninh. Theo bản án trên thì bà M phải bồi thường cho bà T số tiền đã chiếm đoạt là 9.184.00 đồng. Đồng thời, Tòa án tuyên hướng dẫn các đương sự rằng: “Số tiền chênh lệch mà các hụi viên thực đóng và số tiền bị cáo chiếm đoạt phải chịu trách nhiệm hình sự sẽ được giải quyết bằng vụ án dân khác nếu như các đương sự có yêu cầu. Do vậy, số tiền bà M còn nợ bà T 33.000.000 đồng - 9.184.000 đồng = 23.816.000 đồng.
Nay bà T xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, bà T yêu cầu Tòa án nhân huyện T, tỉnh Tây Ninh buộc bà Phan Thị M phải trải cho bà T số tiền nọ hụi là 13.566.000 đồng, ngoài ra, bà T không có yêu cầu gì khác.
Bị đơn bà Phan Thị M trình bày:
Bà M với bà T là người quen, không có họ hàng, theo đơn khởi kiện và lời khai của bà T thì bà T khai tham gia các Dây hụi với bà M là đúng, tuy nhiên, đối với dây hụi 1.000.000 đồng bà T còn nợ bà M số tiền 1.000.000 đồng tiền hụi chết đã lãnh, bà M còn nợ bà T số tiền 16.100.000 đồng tiền thực góp phần hụi sống, trừ ra thì bà M còn nợ bà T số tiền 15.100.000 đồng. Đối với dây hụi 2.000.000 đồng thì bà T chỉ mới thực góp được số tiền 7.750.000 đồng. Tổng cộng hai dây hụi trên bà M còn nợ bà T số tiền 22.850.000 đồng, trừ đi số tiền đã được giải quyết trong bản án hình sự (9.184.000 đồng) thì bà M còn nợ bà T số tiền 13.666.000 đồng và bà M đồng ý trả số tiền này cho bà T. Do đang chấp hành án tại Trại giam X nên bà M xin được giải quyết, xét xử vắng mặt trong vụ án này. Bà M không trình bày gì thêm.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; không xảy ra vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 quy định về họ, hụi, biêu, phường của Chính phủ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử xử theo hướng:
- + Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, buộc bà M trả cho bà T số tiền hụi là 13.666.000 đồng.
- + Bà M phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng công khai tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Phan Thị M vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà M.
[2] Về nội dung tranh chấp: Bà Phan Thị T yêu cầu Tòa án buộc bà Phan Thị M trả cho bà Phan Thị T số tiền hụi là 13.666.000 đồng và không yêu cầu tính lãi. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Phan Thị M đồng ý trả cho bà Phan Thị T số tiền 13.666.000 đồng.
[2.1] Xét yêu cầu của bà Phan Thị T thấy rằng:
[2.1.1] Qua xem xét, các tài liệu, chứng cứ mà bà Phan Thị T cung cấp và việc thừa nhận của bà Phan Thị M thể hiện bà Phan Thị T có tham gia góp hụi do bà Phan Thị M làm thảo hụi và bà Phan Thị M còn nợ bà Phan Thị T số tiền hụi là 13.666.000 đồng. Bà Phan Thị M đồng ý trả cho bà Phan Thị T số tiền 13.666.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[2.2] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị T, buộc bà Phan Thị M có nghĩa vụ trả cho bà Phan Thị T 13.666.000 đồng tiền hụi, ghi nhận bà Phan Thị T không yêu cầu bà Phan Thị M phải trả tiền lãi là phù hợp với quy định Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 quy định về họ, hụi, biêu, phường của Chính phủ.
[3] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Căn cứ vào các Điều 144, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- Bà Phan Thị T không phải chịu án phí nên hoàn trả lại cho bà T 595.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
- Bà Phan Thị M phải chịu 683.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 quy định về họ, hụi, biêu, phường của Chính phủ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị T đối với bà Phan Thị M về việc tranh chấp Hợp đồng góp hụi.
Buộc bà Phan Thị M có nghĩa vụ trả lại cho bà Phan Thị T 13.666.000 (mười ba triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng tiền hụi còn nợ. Ghi nhận bà Phan Thị T không yêu cầu bà Phan Thị M phải trả tiền lãi
Kể từ ngày người được thi hành án bà Phan Thị T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án bà Phan Thị M không thi hành số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án bà Phan Thị M còn phải trả cho người được thi hành án bà Phan Thị T số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí:
- Bà Phan Thị T không phải chịu án phí nên hoàn trả lại cho bà T 595.000 (năm trăm chín mươi lăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu số 0005932 ngày 28/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Bà Phan Thị M phải chịu 683.000 (sáu trăm tám mươi ba nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Cương |
Bản án số 86/2024/DS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 86/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vu an tranh chap hop dong gop hui giua ba T voi ba M
