Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DUY XUYÊN

TỈNH QUẢNG NAM

Bản án số: 86/2023/HS-ST

Ngày: 16-11-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Đại.

Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Sơn Hải và ông Nguyễn Trường Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Lương Nghĩa, Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam tham

gia phiên tòa: bà Đỗ Thị Thu Hà- Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2023/TLST-HS, ngày 09 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2023/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 10 năm 2023 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số: 02/TB-TA ngày 26 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ Phan Thị P, sinh ngày 18/8/1971 tại Quảng Nam; Nơi cư trú: thôn P, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: kinh doanh nhỏ; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan M (đã chết) và bà Dương Thị T; chồng Hứa Văn B (đã chết) và 02 người con, lớn nhất sinh năm 1995 và nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền án: chưa; Tiền sự: Ngày 11/8/2022 bị UBND huyện D xử phạt vi phạm hành chính số tiền 10.000.000 đồng về hành vi “Làm chủ lô đề”, ngày 16/8/2022 nộp phạt xong; Nhân thân: Đã bị xử phạt hành chính như trên.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

2/ Nguyễn Thị L, sinh ngày 20/10/1975 tại Quảng Nam; Nơi cư trú: thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; chồng không rõ và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2002 và nhỏ nhất sinh năm 2006; Tiền án: chưa; Tiền sự: Ngày 15/4/2022

bị Công an xã D, huyện D xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, ngày 22/6/2022 nộp phạt xong.

Nhân thân:

  • + Ngày 05/11/2019, Công an huyện D, tỉnh Quảng Nam loại khỏi diện, đối tượng sưu tra (Số lưu trữ: 151SN20/50311N).
  • + Ngày 30/10/2023 bị cáo Nguyễn Thị L bị Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

3/ Lê Văn T1, sinh ngày 04/10/1980 tại Đà Nẵng; Nơi cư trú: thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: thợ hồ; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn N (đã chết) và bà Hà Thị T2; vợ Võ Thị Thu O (đã ly hôn) và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2004 và nhỏ nhất sinh năm 2006; Tiền án: chưa; Tiền sự: Ngày 18/4/2022 bị UBND huyện D xử phạt vi phạm hành chính số tiền 7.500.000 đồng về hành vi “Dùng nhà, chỗ ở của mình để chứa chấp việc đánh bạc”, ngày 22/6/2022 nộp phạt xong

Nhân thân: Ngày 30/10/2023 bị cáo Lê Văn T1 bị Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

4/ Hứa Văn N1, sinh ngày 01/01/1972 tại Quảng Nam; Nơi cư trú: thôn P, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hứa Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị K (đã chết); vợ là Trần Thị V và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2000 và nhỏ nhất sinh năm 2004; Tiền án: chưa; Tiền sự: Ngày 11/8/2022 bị Công an huyện D xử phạt vi phạm hành chính số tiền 200.000 đồng về hành vi “Đánh bạc", ngày 17/8/2022 nộp phạt xong.

Nhân thân:

  • + Ngày 06/3/1995 bị Công an huyện D xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính số tiền 20.000 đồng (Hai mươi ngàn đồng) về hành vi “Đánh bạc”.
  • + Ngày 14/9/2009, bị Công an tỉnh Q xử phạt vi phạm hành chính về hành số tiền 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng) về hành vi “Đánh bạc”.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Bà Nguyễn Thị Bích P1, sinh năm 1974; địa chỉ: thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt

- Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1987; địa chỉ: thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt

- Bà Bùi Thị L1, sinh năm 1989; địa chỉ: thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt

- Bà Lê Thị C1, sinh năm 1966; địa chỉ: thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 21/3/2023, bị cáo Hứa Văn N1, bị cáo Nguyễn Thị L, bị cáo Lê Thị C1 và Nguyễn Thị Bích P1 đến uống nước tại quán C2; địa chỉ: tại xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam của bị cáo Phan Thị P. Trong lúc ngồi uống nước, cả bốn người cùng rủ nhau đánh “xì lát” được thua bằng tiền. Sau đó, cả bốn người cùng đi vào vị trí cái bàn bên trong quán để đánh bạc. Cả nhóm thống nhất cách thức chơi “xì lát” như sau: bị cáo Lê Thị C1 là người cầm cái, cả nhóm sử dụng bộ bài tây 52 lá, mỗi người chơi sau khi đặt cược tiền với số tiền từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng thì được người cầm cái chia 02 lá bài, số lá bài còn lại được để giữa sòng bài, những người chơi có quyền rút thêm bài nhưng tối đa không quá 05 lá bài. Cả nhóm cùng quy ước kết quả lớn nhỏ như sau: Xì bàn (02 lá bài đều là lá bài A), xì lát (01 lá bài A và 01 lá bài 10 hoặc J hoặc Q hoặc K), ngũ linh (có 5 lá bài với điểm tối đa của các lá bài cộng lại là 21), 21 điểm, 20 điểm, 19 điểm, 18 điểm, 17 điểm, 16 điểm và 15 điểm. Sau đó, người cầm cái sẽ kiểm tra đối chiếu điểm bài của người chơi so với người cầm cái để xác định thắng thua với tỷ lệ thắng thua 1:1.

Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn H1, Bùi Thị L1 và bị cáo Lê Văn T1 cũng đến quán café Hoa S1 uống cafe thì thấy tại đây có đánh bạc được thua bằng tiền nên vào tham gia. Trong suốt quá trình N1, L, T1, C1, L1, P1 và H1 đánh bạc thì chủ quán café Hoa S1 là bị cáo Phan Thị P biết việc này nhưng vẫn đồng ý sử dụng quán café thuộc quyền sở hữu của mình để những người này đánh bạc nhằm mục đích bán nước kiếm lời. Đến 20 giờ 20 phút cùng ngày, khi cả nhóm đang đánh bạc thì bị Công an xã D phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 bộ bài tây 52 lá, số tiền 2.000.000 đồng (trong đó thu giữ tại chiếu bạc số tiền 550.000 đồng, thu giữ trên người các đối tượng số tiền 1.350.000 đồng dùng để đánh bạc và thu giữ trên người bị cáo Phan Thị P số tiền 100.000 đồng do bán café, nước giải khát cho các đối tượng tham gia đánh bạc).

Bản cáo trạng số: 68A/CT-VKSDX ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo Phan Thị P về tội “Gá bạc” theo điểm đ khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Hứa Văn N1,

bị cáo Nguyễn Thị L, bị cáo Lê Văn T1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh, hình phạt:

  • - Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
  • + Bị cáo Phan Thị P phạm tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự;
  • + Bị cáo Nguyễn Thị L, Lê Văn T1 và Hứa Văn N1 phạm tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự
  • - Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử:
  • • Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 65 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Phan Thị P từ 12 - 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 - 30 tháng.
  • Áp dụng khoản 3 Điều 322 BLHS, đề nghị phạt bổ sung số tiền từ 20.000.000 đồng - 30.000.000 đồng.
  • • Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Hứa Văn N1, Nguyễn Thị L và Lê Văn T1, mỗi bị cáo từ 06 - 09 tháng tù.
  • Áp dụng khoản 3 Điều 321 BLHS, đề nghị phạt bổ sung số tiền từ 10.000.000 đồng - 20.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BL TTHS đề nghị:

  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước:
  • • Số tiền 1.900.000 đồng dùng để đánh bạc,
  • • Số tiền 100.000 đồng liên quan đến gá bạc.
  • - Tịch thu tiêu hủy:
  • - 01 bộ bài Tây 52 lá.

Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Phân tích các chứng cứ xác định các bị cáo phạm tội:

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận vụ việc Đánh bạc xảy ra ngày 21/3/2023 tại quán C2 thuộc xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam là do các bị cáo Nguyễn Thị L, Lê Văn T1, Hứa Văn N1 và các đối tượng khác thực hiện (các đối tượng này chưa bị xử lý hành chính hoặc đã bị xử lý hành chính nhưng hết thời hạn theo quy định). Bị cáo

Phan Thị T3 biết rõ các bị cáo dùng địa điểm là quán cà phê do bị cáo P làm chủ sở hữu để đánh bài ăn thua bằng tiền nhưng để bán nước lấy tiền nên bị cáo đã tạo điều kiện cho các con bạc thực hiện hành vi đánh bạc. Lời khai nhận của các bị cáo cơ bản phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có tại hồ sơ vụ án.

Mặc dù số tiền thu giữ tại chiếu bạc và số tiền cơ quan chức năng chứng minh được những người tham gia đánh bạc chỉ 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) chưa đủ định lượng để cấu thành tội phạm Đánh bạc và G bạc nhưng các bị cáo Phan Thị P, Nguyễn Thị L, Lê Văn T1 và Hứa Văn N1 thực hiện hành vi Đánh bạc, G bạc khi đã bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc (hành vi cụ thể của từng bị cáo như trên đã nêu) mà còn tiếp tục vi phạm nên hành vi của các bị cáo cấu thành tội phạm Đánh bạc, G bạc.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định bị cáo Phan Thị P phạm tội “Gá bạc”; các bị cáo Hứa Văn N1, Nguyễn Thị L và Lê Văn T1 phạm tội “Đánh bạc” như cáo trạng số: 68A/CT-VKSDX ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật. Tội phạm và hình phạt đối với bị cáo N1, L, T1 được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; tội phạm và hình phạt của bị cáo P được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự.

[2] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo thì thấy:

- Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy.

Đây là vụ án hình sự có tính chất giản đơn, các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc một cách tự phát, không có tổ chức. Tuy nhiên hành vi gá bạc, đánh bạc trái phép dưới bất cứ hình thức nào đều bị Nhà nước nghiêm cấm. Các bị cáo là người trưởng thành có đủ nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Thị L và bị cáo Lê Văn T1 trong thời gian đang được tại ngoại để điều tra về tội Đánh bạc, các bị cáo này lại tiếp tục phạm tội (Ngày 30/10/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Điều đó cho thấy bị cáo Lê Văn T1 và bị cáo Nguyễn Thị L có ý thức xem thường pháp luật, cần xử phạt nghiêm đối với 02 bị cáo này mới có tính giáo dục chung, phòng ngừa riêng.

Bị cáo Hứa Văn N1 02 lần bị xử lý hành chính, năm 1995 bị cáo bị xử phạt 20.000 đồng (đã nộp phạt năm 1995) và năm 2009 bị xử phạt 500.000 đồng (nộp phạt năm 2009). Hội đồng xét xử thấy thời gian xử phạt vi phạm hành chính của bị

cáo N1 đến thời điểm phạm tội đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính nên sẽ cân nhắc khi lượng hình.

Bị cáo Phan Thị P đã bị xử phạt hành chính nhưng tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” là yếu tố cấu thành tội phạm nên Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo thì thấy:

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
  • + Các bị cáo Phan Thị P, Hứa Văn N1, Lê Văn T1 và Nguyễn Thị L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
  • + Các bị cáo Hứa Văn N1, Lê Văn T1 và Nguyễn Thị L phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo Phan Thị P, bị cáo Hứa Văn N1 và bị cáo Nguyễn Thị L có điều kiện rất khó khăn, có xác nhận của UBND xã là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Trên cơ sở xem xét diễn biến hành vi phạm tội của các bị cáo, tính chất mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Đối với bị cáo Lê Văn T1 và bị cáo Nguyễn Thị L mặc dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, các bị cáo đánh bạc số tiền không nhiều nhưng bị cáo T1 và bị cáo L trong thời gian được tại ngoại để phục vụ việc điều tra, truy tố lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên cần phải cách ly các bị cáo này ra ngoài xã hội mới có tính răn đe giáo dục đối với các bị cáo.

Đối với bị cáo Phan Thị P, bị cáo P có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà giao cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Bị cáo Hứa Văn N1 đã bị xử phạt hành chính năm 1995 và năm 2009, đến thời điểm phạm tội đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, mặt khác đây là vụ án hình sự có tính chất giản đơn, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, căn cứ Điều 2 của Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo có thu nhập không ổn định nên không cần thiết phải xử phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của

Bộ luật hình sự, các vật chứng được xử lý như sau:

  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 2.000.000 đồng các bị cáo dùng để Đánh bạc và G bạc;
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Các vấn đề khác cần giải quyết trong vụ án:

Đối với Lê Thị C1, Bùi Thị L1, Nguyễn Thị Bích P1, Nguyễn Văn H1 là những người có tham gia đánh bạc cùng với Hứa Văn N1, Nguyễn Thị L và Lê Văn T1 tại quán C2 thuộc quyền sở hữu của Phan Thị P vào ngày 21/3/2023 nhưng hành vi đó của C1, L1, P1 và H1 chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện D đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” là phù hợp.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Quảng Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Phan Thị P phạm tội “Gá bạc".

Xử phạt bị cáo Phan Thị P: 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/11/2023).

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Hứa Văn N1 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Hứa Văn N1: 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/11/2023).

Giao bị cáo Phan Thị P và bị cáo Hứa Văn N1 cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, (bị cáo Nguyễn Thị L được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự) tuyên bố bị cáo Lê Văn T1 và bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T1: 06 (Sáu) tháng tù; Xử phạt, bị cáo Nguyễn Thị L: 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo T1 và bị cáo L được tính từ ngày các bị cáo đi chấp hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây 52 lá.
  • (Vật chứng này hiện tại đang ở Chi cục thi hành án dân sự huyện Duy Xuyên theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/10/2023)
  • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu) đồng.
  • (Số tiền này đang ở Chi cục thi hành án dân sự huyện Duy Xuyên theo giấy Uỷ nhiệm chi ngày 26/10/2023)

Về án phí: áp dụng khoản 1 điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 16/11/2023); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

(Đã giải thích quy định về án treo cho bị cáo P và bị cáo N1)

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND huyện Duy Xuyên;
  • - Cơ quan CSĐT huyện Duy Xuyên;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện;
  • - Trại giam Công an tỉnh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Đại

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM về hình sự (tội gá bạc và tội đánh bạc)

  • Số bản án: 86/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Gá bạc và Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạt tù treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger