|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 859/2024/HS-PT Ngày: 19 - 9 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Tuấn
Các Thẩm phán: Ông Phan Văn Yên
Ông Phan Nhựt Bình
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 311/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Ngô Thị Y.
Do bản án hình sự sơ thẩm số: 95/2024/HS –ST ngày 12/3/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh do có kháng cáo của người bị hại ông Ngô Văn B kháng cáo.
Họ và tên: Ngô Thị Y (tên gọi khác: Y1, Đ); Giới tính: Nữ; Sinh năm 1963 tại tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: 488 ấp C, xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre; Chỗ ở: C Quốc lộ A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Ngô Văn D (Chết) và con bà Đỗ Thị S (Chết); Hoàn cảnh gia đình: bị cáo không có chồng, có 01 người con sinh năm 1982; Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo hiện đang chấp hành án theo Quyết định số 437/2024/QĐ-CA ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện thi hành án tại Trại giam L4 – Bộ C1. (có mặt).
- Bị hại:
- Bà Nguyễn Thị H; Nơi đăng ký thường trú: 4 L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ông Ngô Văn B, sinh năm 1964; Nơi đăng ký thường trú: 763/4/7 Trường Chinh, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: B14/12 Căn hộ quân khu 7, khu phố 4, đường Trung Mỹ Tây 2A, phường Trung Mỹ Tây, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Trương Văn C; Địa chỉ: A Quốc Lộ A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Văn phòng C2; Địa chỉ: D V, Phường F, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Văn phòng C3 (nay là Văn phòng C4); Địa chỉ: B đường V, V, B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Văn phòng C5; Địa chỉ: A T, phường Đ, Quận A, TP Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Vĩnh P, sinh năm 1978; Nơi đăng ký HKTT: 793/28/1/11 T, phường T, Quận G, TP Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/02/2017, ông Trương Văn C đi xe mô tô hiệu Honda SH biển số 59Y1-604.21 đến tiệm chụp ảnh Chân Tình trên đường N, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi ông C dựng xe mô tô ở lề đường đi vào trong tiệm chụp ảnh thì bị kẻ gian lấy mất xe, trong cốp xe có các giấy tờ bản chính sau:
- + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC776164, số vào sổ CS17866 ngày 25/01/2016 đối với thửa số 46, diện tích 2.681,8m², tờ bản đồ số 60, phường B, quận B do ông Trương Văn C đứng tên chủ sở hữu.
- + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U372697, số vào sổ 03586 QSDĐ/11A ngày 14/03/2002 đối với thửa số 1040, diện tích 2.804m², tờ bản đồ số 13, xã V, huyện B, chủ sở hữu ông Trương Văn C.
- + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG242663, số vào sổ H01412 ngày 15/11/2006 đối với thửa đất số 402, diện tích 154,9 m², tờ bản đồ số 10, phường B, quận B, chủ sở hữu ông Trương Văn C.
- + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số VI90279, số vào số 79 QSDĐ/ ngày 08/4/2002 đối với thửa đất số 18-¹, diện tích 585 -m², tờ bản đồ số 19, xã A, huyện C, chủ sở hữu ông Trương Văn C.
- + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở số BY567695, số vào sổ CH02812 ngày 25/02/2015 đối với căn hộ số 1.03 Cao ốc Văn phòng và Căn hộ T, diện tích 61,7m², phường T, Quận A, chủ sở hữu ông Trương Văn C.
- + Sổ hộ khẩu số 31240001035 do Công an quận B cấp ngày 14/10/2012 mang tên hộ ông Trương Văn C.
- + Giấy đăng ký xe mô tô hiệu Honda SH biển số 59Y1-604.21 do Trương Thị Tuyết M (con gái ông C) đứng tên chủ sở hữu.
Ngày 21/3/2017, ông C đến Công an phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh tố giác việc bị mất trộm xe mô tô và các giấy tờ nêu trên. Công an phường B tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 10/5/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự “Trộm cắp tài sản” để điều tra làm rõ. Đến ngày 10/8/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án do hết thời hạn điều tra mà chưa xác định được bị can.
Ngày 14/4/2017, ông Trương Văn C nộp hồ sơ tại Văn phòng Đ1 Chi nhánh quận B đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC776164 đối với thửa số 46, tờ bản đồ số 60, phường B, quận B. Trong thời gian giải quyết hồ sơ theo yêu cầu của ông C, Văn phòng Đ1 Chi nhánh quận B nhận được hồ sơ ông Trần Anh T đề nghị cập nhật biến động đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC776164 nhận chuyển nhượng đất của ông Trương Văn C. Ngày 30/5/2017, Văn phòng Đ1 Chi nhánh quận B đã cập nhật biến động sang tên cho ông Trần Anh T và phát hành giấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cập nhật biến động cho ông T.
Ngày 10/8/2017, Văn phòng Đ1 Chi nhánh quận B có Công văn số 2740 chuyển tin báo về tội phạm đối với hành vi “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B giải quyết.
Ngày 09/2/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B chuyển tin báo về tội phạm của Văn phòng Đ1 Chi nhánh quận B đến Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, để giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra xác định trong năm 2017, Ngô Thị Y cùng Đặng Văn T1 cùng các đối tượng khác đã nhiều lần đóng giả chủ sở hữu nhà và đất để ký hợp đồng công chứng chuyển nhượng hoặc hợp đồng ủy quyền để chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:
- Về thửa đất số 46, diện tích 2.681,8m², tờ bản đồ số 60, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh:
- + Khoảng đầu tháng 3/2017, Ngô Thị Y liên lạc với ông Huỳnh Văn D1 để chào bán hoặc cầm cố để vay tiền đối với thửa đất số 46, tờ bản đồ số 60, phường B, quận B đứng tên ông Trương Văn C thì ông D1 đồng ý cho vay số tiền 1.500.000.000 đồng và sẽ làm hợp đồng giả cách chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngày 08/3/2017, Y đi cùng Đặng Văn T1 đóng giả ông Trương Văn C đến Văn phòng Có để T1 giả mạo ông C ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Huỳnh Thị P1 là em gái ông D1 (Hợp đồng chuyển nhượng đất số 002256 do Công chứng viên Nguyễn Đình M1 chứng thực). Khoảng 01 tuần sau, Y cùng với Đặng Văn T1 hẹn gặp ông D1 để bàn việc chuyển nhượng thửa đất, theo đó Y đề nghị ông D1 đưa thêm số tiền 1.500.000.000 đồng, nhưng do ông D1 và bà P1 nghi ngờ T1 không phải là ông C chủ đất (thật) nên không đồng ý đưa thêm tiền mà đòi thanh lý hợp đồng để nhận lại tiền đã cho vay.
- + Sau đó, thông qua sự giới thiệu của ông Nguyễn Hoàng L và bà Trần Thị T2, ngày 28/3/2017, Y và T1 hẹn gặp bà Nguyễn Thị H tại quán C7, địa chỉ số B đường C, Phường A, Quận A để thỏa thuận mua bán lại thửa số 46, diện tích 2.681,8m², tờ bản đồ số 60, phường B, quận B mà trước đó T1 giả mạo ông C ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Huỳnh Thị P1. Tại quán cà phê Y giới thiệu là “vợ nhỏ” của ông C chủ đất (do T1 đóng giả) để đàm phán với bà H. Bên cạnh đó, Y và T1 đã hẹn ông D1 và bà P1 mang bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC776164 đến quán C7 để cho bà H xem. Sau khi xem, bà Hiệp đồng Ý mua thửa đất này với giá 3.000.000.000 đồng. Tiếp đó, bà P1 và ông T1 liên hệ với Công chứng viên Nguyễn Đình M1 thuộc Văn phòng C6 đến quán C7 để công chứng hợp đồng hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng đất số 002256 ngày 08/3/2017 mà Đặng Văn T1 giả mạo ông Trương Văn C ký chuyển nhượng cho bà Dương Thị P2. Sau khi hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng số 002256 ngày 08/3/2017, Y và T1 hẹn với bà H là sẽ tiến hành công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giao tiền tại quán cà phê của bà Bành Thị H1 địa chỉ số C đường N, Phường A, Quận F. Ngay sau đó, bà H liên hệ với Công chứng viên Nguyễn Tiến L1 thuộc Văn phòng C2 hẹn công chứng ngoài trụ sở.
- + Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày (28/3/2017), bà H nhờ ông Võ Văn H2 (em trai bà H) và ông Lê Thanh P3 mang số tiền 3.000.000.000 đồng đến để trên bàn trước mặt Y và T1 tại quán cà phê của Bành Thị H1 địa chỉ số C đường N, Phường A, Quận F. Đến 15 giờ cùng ngày, Đặng Văn T1 (giả mạo ông C) ký trước vào bên chuyển nhượng tại Hợp đồng số 004967, còn bên nhận chuyển nhượng là ông Trần Anh T (ông T là em bà H) sẽ ký sau. Khi Đặng Văn T1 ký hợp đồng xong, T1 than mệt đi ra xe ô tô của L ngồi nghỉ, nên bà H giao cho số tiền 3.000.000.000 đồng cho Y nhận, tại thời điểm khi Y nhận tiền thì ông Võ Văn H2 đi ra gặp T1 đưa ra tờ giấy nhận tiền cho T1 ký vào. Sau khi nhận được tiền Y đã lấy ra số tiền 1.550.000.000 đồng giao trả cho ông D1 và bà P2, số tiền còn lại Y cất vào túi xách mang ra xe ô tô đi cùng T1. Về phía người nhận chuyển nhượng là ông Trần Anh T, sau đó đã đến Văn phòng C2 ký vào bên nhận chuyển nhượng của Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất. Ngày hôm sau, bà H hẹn Y đến quán cà phê Lan A yêu cầu Y viết thêm giấy xác nhận về việc T1 đã nhận số tiền 3.000.000.000 đồng.
- Về thửa đất số 1040, diện tích 2.804m², tờ bản đồ số 13, xã V, huyện B, theo giấy chứng nhận số: U372697, số vào số: 03586, quyền sử dụng đất VLA do Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/3/2002, đăng ký biến động ngày 13/4/2015 và ngày 24/4/2015:
- + Ngày 17/4/2017, Y đi cùng một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) đóng giả ông Trương Văn C là chủ thửa đất số 1040, tờ bản đồ số 13, xã V, huyện B đến gặp Công chứng viên Nguyễn Vĩnh P, Văn phòng C5, để ký Hợp đồng ủy quyền số 07645 đối với thửa đất trên cho Y được toàn quyền định đoạt.
- + Ngày 25/4/2017, Y sử dụng Hợp đồng ủy quyền số 07645 ngày 17/4/2017, đại diện cho ông C để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 1040, tờ bản đồ số 13, xã V, huyện B cho ông Ngô Văn B tại Văn phòng C3 do Công chứng viên Trần Thị Thúy H3 chứng thực (Hợp đồng số 003691), giá trị chuyển nhượng theo hợp đồng là 400.000.000 đồng. Ông B sau đó tiến hành làm thủ tục đăng bộ sang tên, đến ngày 23/5/2017 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ1 cập nhật biến động sang tên.
- + Mặc dù thửa đất thửa đất số 1040, tờ bản đồ số 13, xã V, huyện B, trước đó Y đã ký chuyển nhượng cho ông B nhưng đến ngày 01/6/2017, Y vẫn tiếp tục thỏa thuận bán thửa đất này cho bà Nguyễn Thị H với giá 3.000.000.000 đồng. Hai bên (Y và bà H) đã lập hợp đồng đặt cọc, Y nhận của bà H số tiền đặt cọc là 1.000.000.000 đồng và Y giao cho bà H các bản chính để làm tin, gồm: Giấy giao nhận số tiền 1.500.000.000 đồng đề ngày 10/3/2017 giữa Y và ông C; Giấy giao nhận số tiền 3.000.000.000 đồng đề ngày 25/4/2017 để thanh toán tiền mua bán thửa đất 1040, tờ bản đồ số 13, xã V, B; Hợp đồng ủy quyền số 07645; Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu và Giấy xác nhận độc thân mang tên Trương Văn C. Sau đó vào ngày 02/6/2017, Y khởi kiện ông Ngô Văn B tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh yêu cầu hủy hợp đồng chuyến nhượng quyền sử dụng đất số 1040, nhưng đến ngày 10/10/2017, Y đã làm đơn xin rút đơn khởi kiện.
Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, tiến hành xác minh đối tượng theo dấu vân tay để xác định người đóng giả ông Trương Văn C trên hợp đồng ủy quyền số 07645 tại Cục Hồ sơ và Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội Bộ C1 nhưng đến nay vẫn chưa xác định được lai lịch của người này.
- Về thửa đất số 402, tờ bản đồ số 10, phường B, quận B; thửa đất số 18-1, tờ bản đồ số 19, xã A, huyện C và căn hộ S Cao ốc Văn phòng và Căn hộ T, phường T, Quận A:
Quá trình điều tra, bị cáo Ngô Thị Y khai nhận: Ngày 20/4/2017, Y và một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) đóng giả ông Trương Văn C ký hợp đồng vay tiền (Hợp đồng không công chứng) với nội dung ông tên C vay của bà Y số tiền 850.000.000 đồng nên ông C thế chấp cho bà Y các giấy tờ gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V190279 số vào sổ 79 QSDĐ/ ngày 08/4/2002 đối với thửa đất số 18-1, diện tích 585m², tờ bản đồ số 19, xã A, huyện C; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở số BY567695, số vào sổ CH02812 ngày 25/02/2015 đối với căn hộ số 1.03 Cao ốc Văn phòng và Căn hộ T, diện tích 61,7m², phường T, Quận A và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG242663 số vào sổ H01412 ngày 15/11/2006 đối với thửa đất số 402, diện tích 154,9 m², tờ bản đồ số 10, phường B, quận B. Sau đó, Y đã trả lại 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho ông tên C (người đã ký hợp đồng vay tiền) nên không còn giữ nữa.
Do bị cáo Y chỉ cung cấp bản photo 01 hợp đồng vay tiền và 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên nên không thể giám định làm rõ có phải chữ ký, chữ viết của Đặng Văn T1 hay không; đồng thời chưa tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm nào liên quan đến 03 giấy chứng nhận này.
Tại Bản kết luận giám định số 529/KLGĐ-TT ngày 21/5/2018 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận:
- + Không đủ cơ sơ để kết luận giám định chữ ký ghi tên Trương Văn C trên Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất số công chứng 004967 ngày 28/3/2017 tại Văn phòng C2 đối với thửa đất số 46, tờ bản đồ số 60, phường B, quận B.
- + Chữ viết ghi tên Trương Văn C trên Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất số công chứng 004967 ngày 28/3/2017 tại Văn phòng C2 đối với thửa đất số 46, tờ bản đồ số 60, phường B, quận B so với chữ viết của ông Trương Văn C là không do cùng một người viết ra.
- + Hai dấu vân tay ghi tên Trương Văn C trên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 004967 ngày 28/3/2017 tại Văn phòng C2 đối với thửa đất số 46, tờ bản đồ số 60, phường B, quận B không trùng giống so với hai dấu vân tay của ông Trương Văn C. (Bút lục số 151, 152).
Tại Bản Kết luận giám định số 935/KLGĐ-TT ngày 04/9/2018 của Phòng K C, xác định: Dấu vân tay của người mang tên Trương Văn C trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 004967 ngày 28/3/2017 tại Văn phòng C2 trùng với dấu vân tay của Đặng Văn T1, sinh năm 1959, cư trú tại địa chỉ ấp Đ, xã N, huyện C. (Bút lục số 153-155).
Tại Bản kết luận giám định số 464/KLGĐ-TT ngày 05/4/2109 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận:
- + Chữ viết họ tên Trương Văn C trên hai tài liệu giám định ký hiệu A1, A2 (Hợp đồng số 002256 ngày 08/3/2017 và số 003070 ngày 28/3/2017 của Văn phòng C6) so với chữ viết của Đặng Văn T1 trên các tài liệu mẫu so sánh hiệu M6 đến M12 (các biên bản ghi lời khai và tự khai của Đặng Văn T1) do cùng 01 người viết ra;
- + Chữ viết họ tên Trương Văn C trên hai tài liệu giám định ký hiệu A3 (Hợp đồng số 07645 ngày 17/4/2017 của Văn phòng C5) so với chữ viết của Đặng Văn T1 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M6 đến M12 không phải do cùng 01 người viết ra;
- + Dấu vân tay có chữ ký, chữ viết họ tên Trương Văn C trên 02 tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với dấu vân tay ngón trỏ phải và trỏ trái của Đặng Văn T1 trên các tài liệu so sánh ký hiệu M1 đến M5 (D2 chỉ bản, tờ khai Chứng minh nhân dân của Đặng Văn T1) là dấu vân tay của cùng 01 người;
- + Dấu vân tay có chữ ký, chữ viết họ tên Trương Văn C trên tài liệu cần giám định ký hiệu A3 (Hợp đồng số 07645 ngày 17/4/2017 của Văn phòng C5) không đồng nhất với dấu vân tay của Đặng Văn T1 trên các tài liệu so sánh ký hiệu M1 đến M5. (Bút lục số: 156-159)
Tại Bản kết luận giám định số 1117/KLGĐ-TT ngày 18/7/2019 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận:
- + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CC776164 đứng tên Cạn là thật;
- + Sổ hộ khẩu số: 31240001305 tên chủ hộ Trương Văn C là thật;
- + Bản in mặt sau, hình dấu tròn, dấu chữ ký và dấu tên trên Chứng minh nhân dân số [...] mang tên Trương Văn C là thật; Bản in mặt trước Chứng minh nhân dân số [...] mang tên Trương Văn C được làm giả bằng phương pháp in phun màu;
- + Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 133 ngày 24/03/2017 do Ủy ban nhân dân phường B, quận B cấp, được làm giả hình dấu của Ủy ban nhân dân phường B B và chữ ký của bà Đinh Thị L2 Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường;
- + Chữ viết trên hợp đồng mua bán đất đề ngày 27/3/2017 so với chữ viết của Đặng Văn T1 trên mẫu so sánh không phải do cùng một người viết ra;
- + Chữ viết họ tên Ngô Thị Y trên Hợp đồng ủy quyền số 07645 ngày 17/4/2017, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 003691 ngày 25/4/2017, Giấy nhận tiền đề ngày 25/4/2017, Hợp đồng đặt cọc bán nhà đề ngày 01/6/2017 so với chữ viết của Ngô Thị Y trên các tài liệu so sánh do cùng một người viết ra.
- + Chữ ký mang tên Ngô Thị Y trên Hợp đồng ủy quyền số 07645 ngày 17/4/2017, Hợp đồng đặt cọc bán nhà đề ngày 01/6/2017, Giấy nhận tiền ngày 28/3/2017 so với chữ ký của Ngô Thị Y trên tài liệu so sánh do cùng một người ký ra.
- + Không đủ cơ sở kết luận chữ ký mang tên Ngô Thị Y trên các tài liệu Giấy nhận tiền đề ngày 10/3/2017, Giấy nhận tiền đề ngày 25/4/2017, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 003691 ngày 25/4/2017 so với chữ ký của Ngô Thị Y trên mẫu so sánh có phải do cùng một người ký ra hay không;
- + Dấu vân tay trên Hợp đồng ủy quyền số 07645 ngày 17/4/2017, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 003691 ngày 25/4/2017, Hợp đồng đặt cọc bán nhà đề ngày 01/6/2017 so với dấu vân tay của Ngô Thị Y trên tài liệu so sánh là dấu vân tay của cùng một người;
- + Dấu vân tay trên Giấy nhận tiền ngày 28/3/2017 không đủ yếu tố giám định;
- + Dấu vân tay trên Chứng minh nhân dân số [...] mang tên Trương Văn C so với dấu vân tay của Đặng Văn T1 trên tài liệu so sánh là dấu vân tay của cùng một người.
Đối với Đặng Văn T1 (giả mạo ông C) ký Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất thửa số 46, diện tích 2.681,8m², tờ bản đồ số 60, phường B, quận B với giá 3.000.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị H (do ông Trần Anh T đứng tên cho bà H).
Ngày 21/7/2020, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm tuyên phạt 16 năm tù đối với Đặng Văn T1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo Bản án số 259/2020/HS-ST. Ngày 23/12/2020, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm, tuyên y án đối với Đặng Văn T1, theo Bản án số 807/2020/HSPT.
Quá trình điều tra, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, đã tiến hành lấy lời khai Đặng Văn T1 tại Trại giam T5 (Bộ C1), T1 thừa nhận hành vi phạm tội, đã đóng giả ông Trương Văn C ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất của ông C tại quận B. T1 khai được đối tượng Q là cháu rể bên vợ móc nối, rủ đi đóng giả người khác ký hợp đồng chuyển nhượng đất để lấy tiền trị bệnh. Q là người mai mối, là mắt xích đầu tiên, các lần T1 đi đóng giả người khác ký chuyển nhượng đất đều do Q đến nhà chở đi. Đối với việc đóng giả ông Trương Văn C ký hợp đồng thì T1 tham gia như sau:
- + Lần 1: Ngày 08/3/2017, Q chở T1 đến quán cà phê gặp đối tượng tên T3 (chưa rõ lai lịch). T3 hướng dẫn cho T1 giả chữ ký của ông Trương Văn C. Sau đó, T3 gọi điện thoại cho Ngô Thị Y đến quán cà phê đưa T1 đi đóng giả ông C ký hợp đồng, còn T3 và Q ngồi lại quán cà phê chờ. Y chở T1 đến Văn phòng Có để đóng giả ông C ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho bà Huỳnh Thị P1. Sau khi ký họp đồng xong, Y chở T1 quay lại quán cà phê gặp Q chở về nhà và được Q đưa cho 3.000.000 đồng.
- + Lần 2: Khoảng 01 tuần sau, Q chở T1 đến quán cà phê gặp T3, sau đó Y đến đón đưa T1 đến địa điểm giống nhà hàng tiệc cưới gặp ông Huỳnh Văn D1 nhưng không đi ký hợp đồng do ông D1 có thắc mắc vấn đề gì đó, đòi xem chứng minh nhân dân. Sau đó, Y kêu xe ôm chở T1 về lại quán cà phê mà Q và T3 đang ngồi chờ. T1 và Q mỗi người được T3 cho 500.000 đồng, Q chở T1 về nhà.
- + Lần 3: Ngày 28/3/2017, Q chở T1 đến quán cà phê gặp T3. Sau đó, T3 gọi Y đến đón T1, đi xe ô tô đến quán C7, ở Quận C. Tại đây, T1 ký hợp đồng hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng đất cho bà P1. Đến buổi chiều cùng này, Y đưa T1 đi bằng xe ô tô đến quán cà phê khác để gặp bà Nguyễn Thị H ký hợp đồng chuyển nhượng đất. Khi nói chuyện với bà H, Y giới thiệu là vợ của ông C (do T1 đóng giả) đang nằm điều trị tại Bệnh viện P5. Khi ký hợp đồng xong, T1 giả bệnh đi ra xe ô tô nghỉ để Y trực tiếp nhận tiền mang ra cất trên xe, sau khi nhận tiền xong Y kêu xe ô tô chạy đến Bệnh viện P5 để T1 và Y mang tiền xuống xe vào trong bệnh viện ngồi chờ một lúc rồi lại kêu xe ô tô khác đến chở T1 về chỗ T3 và Q đang chờ. T1 được trả công 3.000.000 đồng, Q chở T1 về nhà. Sau lần này thì Tư sợ không đi ký hợp đồng nữa, sau đó có nghe Q nói là do T1 không đi nữa nên T3 kiếm người khác thay thế.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ghi lời khai Lê Ái Q là cháu rể bên vợ của Đặng Văn T1. Lê Ái Q không thừa nhận đã móc nối để Đặng Văn T1 đi đóng giả người khác ký hợp đồng chuyến nhượng đất mà chỉ là xe ôm chở T1 đi S 04 lần gặp đối tượng tên T3 (không rõ lai lịch) trong đó có 02 lần gặp Ngô Thị Y (một lần trên quán cà phê đường T, Quận H và 01 lần tại Văn phòng C6 trên đường T, Quận H). Kết quả làm việc với bị can Ngô Thị Y thì Y không biết Lê Ái Q và không nhận dạng được ảnh của Q.
Đối với ông Ngô Văn B sau khi mua bán thửa đất số 1040, tờ bản đồ số 13, xã V, huyện B với Ngô Thị Y đã thay đổi nơi cư trú nên quá trình điều tra chưa xác định được số tiền bị chiếm đoạt. Đến ngày 22/9/2022, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử thì ông B đến phiên tòa trình bày việc vắng mặt trước đây nên vụ án được trả điều tra bổ sung. Ông Ngô Văn B, khai báo: ngày 17/4/2017 Ngô Thị Y điện thoại cho ông B chào bán thửa đất số 1040, tờ bản đồ số 13, xã V, huyện B. Y nói thửa đất này được ông Trương Văn C ủy quyền toàn quyền định đoạt và dẫn ông B đi xem đất thực tế. Ông B xem quy hoạch đất là khu dân cư mới nên đồng ý đến nhà Y để thỏa thuận mua bán. Y đưa cho ông B xem Hợp đồng ủy quyền và bộ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Y còn nói ông Trương Văn C trước đây bị tai nạn giao thông tại Quận E được Y đưa vào Bệnh viện C8 cấp cứu, chăm sóc nên sống chung với nhau. Nghe Y trình bày và xem giấy tờ đất thì ông B đồng ý mua, hẹn ngày 24/4/2017 đi công chứng hợp đồng mua bán tại Văn phòng C3 với giá ghi trên hợp đồng là 400.000.000 đồng. (Ông B cho rằng giá thực là 2.000.000 đồng, ông đã giao đủ tiền và làm thủ tục sang tên đăng bộ vào ngày 23/5/2017.
Ngày 21/6/2021, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H bắt được Ngô Thị Y theo thủ tục truy nã. Quá trình điều tra, Ngô Thị Y khai đã tham gia cùng Đặng Văn T1 ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho bà Nguyễn Thị H như nội dung vụ án nêu trên. Bị can không thừa nhận việc lừa đảo, cho rằng mình bị oan do Y không cấu kết với Đặng Văn T1 mà chỉ làm môi giới để hưởng hoa hồng.
Về trách nhiệm dân sự:
Tại Bản án số 807/2020/HSPT ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm buộc Đặng Văn T1 bồi thường cho bà Nguyễn Thị H tổng số tiền 3.000.000.000 đồng ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Ngày 06/12/2021, bà Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu bồi thường buộc Ngô Thị Y liên đới cùng với Đặng Văn T1 bồi thường số tiền 3.000.000.000 đồng theo Bản án 807/HSPT ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh liên quan đến thửa đất số 46, tờ bản đố số 60, phường B, quận B. Riêng Ngô Thị Y phải bồi thường thêm số tiền 1.000.000.000 đồng liên quan đến thửa đất số 1040, tờ bản đồ số 13, xã V, huyện B. Ngô Thị Y và Đặng Văn T1 chưa thực hiện việc bồi thường.
Ngày 30/01/2023, ông Ngô Văn B có yêu cầu bồi thường 2.000.000.000 đồng là số tiền thực tế giao dịch chuyển nhượng đất mà Ngô Thị Y đã lừa đảo chiếm đoạt của ông B. Trách nhiệm bồi thường do Toà án quyết định.
Tại Bản cáo trạng số 266/CT-VKS-P2 ngày 16/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Ngô Thị Y về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- - Bị cáo Ngô Thị Y không thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo cho rằng mình chỉ làm môi giới để nhận tiền hoa hồng.
- - Bị hại Ngô Văn B cho rằng: ông căn cứ vào Hợp đồng ủy quyền lập tại Văn phòng C5 để tiến hành mua bán thửa đất 1040, tờ bản đồ số 13, xã V với bị cáo Y, do đó ông yêu cầu Văn phòng C5 phải bồi thường cho ông giá trị thửa đất số 1040, tờ bản đồ số 13, xã V, huyện B.
- - Luật sư Nguyễn Đăng T4 bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại Ngô Văn B trình bày: Thứ nhất, tại sao ngày 09/02/2017 ông C bị mất tài sản và các giấy tờ, nhưng mãi đến ngày 21/3/2017, ông C mới trình báo công an về việc mất trộm này, dù với giá trị tài sản bị mất là rất lớn, như vậy thì có phù hợp không, tại sao ông C không thông báo kịp thời; trong khi đó, ngày 05/3/2017, ông C lại thuê công ty đo vẽ toàn bộ thửa đất 1040 và trước thời gian chưa trình báo việc mất trộm, ông C còn có giao dịch với ông Trần Anh T nữa. Vậy việc mất trộm tài sản này có thật hay không và ông C có mối quan hệ gì với nhóm đối tượng đóng giả ông C hay không thì chưa được làm rõ. Thứ hai, bị cáo Y lừa đảo ông B đối với thửa đất 1040 thì thửa đất này phải là tang vật vụ án, tại sao không kê biên, định giá để giải quyết trong vụ án. Thứ ba, Kiểm sát viên cho rằng Văn phòng C5 và Công chứng viên P không có lỗi nhưng chứng minh nhân dân của ông C thu giữ tại Văn phòng C5 không được giám định dấu vân tay của ông C, sổ hộ khẩu có sự chỉnh sửa, giấy xác nhận độc thân ông C thể hiện ông chưa từng kết hôn khi ông đã rất lớn tuổi, như vậy thì vô lý quá nhưng Công chứng viên P không phát hiện sổ hộ khẩu có sự chỉnh sửa thì có phải có sự thiếu trách nhiệm, tắc trách để xảy ra hậu quả là công chứng Hợp đồng ủy quyền, đã dẫn đến hành vi lừa đảo của bị cáo Y. Đồng thời, bị cáo Y trình bày là bị cáo Y ký sau vào hợp đồng ủy quyền, trước đó người uỷ quyền đã ký, việc này là vi phạm Luật công chứng. Căn cứ Điều 360; Điều 364; Điều 597 Bộ luật dân sự đề nghị định giá thửa đất để có căn cứ cho việc bồi thường. Tại phiên tòa không có mặt ông C, ông P thì không làm rõ được các vấn đề còn mâu thuẫn trong vụ án này nên đề nghị triệu tập để làm rõ.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 95/2024/HS –ST ngày 12/3/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:
1.Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Ngô Thị Y (tên gọi khác: Y1, Đ) 17 (mười bảy) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2021.
2.Căn cứ vào Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Các Điều 584; 585; 588; 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- -Buộc Ngô Thị Y phải bồi thường cho ông Ngô Văn B số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng), thi hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật;
- -Buộc Ngô Thị Y bồi thường cho bà Nguyễn Thị H số tiền 989.000.000 đồng (chín trăm tám mươi chín triệu đồng), thi hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật;
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án nếu người có nghĩa vụ thi hành án chưa thực hiện nghĩa vụ nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi bổ sung năm 2014 (sau đây gọi tắt là Luật thi hành án dân sự) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Ngoài ra bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 21 tháng 3 năm 2024 ông Ngô Văn B kháng cáo với nội dung:
Ông Trương Văn C và ông Nguyễn Văn P4 vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm nên chưa làm rõ được hợp đồng ủy quyền ngày 17/4/2017 tại Công chứng Quận A. Ông Trương Văn C và ông Nguyễn Vĩnh P phải là đồng phạm với bị cáo Ngô Thị Y. Ai ăn trộm xe máy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cà vẹt xe, hộ khẩu của ông C. Yêu cầu Phòng C9 bồi thường cho ông giá trị lô đất 1040 theo giá thị trường hiện tại. Yêu cầu kê biên, định giá thửa đất.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông Ngô Văn B giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Bị cáo Ngô Thị Y thống nhất với bản án sơ thẩm, không có ý kiến tranh luận.
Đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông Ngô Văn B, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự đối với ông Ngô Văn B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
[1] Đơn kháng cáo của ông Ngô Văn B nằm trong hạn luật định nên được đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm. Tòa án triệu tập hợp lệ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng vắng mặt nên tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Xét kháng cáo của ông Ngô Văn B, Hội đồng xét xử thấy:
[2.1] Trên cơ sở lời khai nhận của bị cáo Ngô Thị Y, bị hại Ngô Văn B và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở kết luận:
Vào ngày 17/4/2017, Ngô Thị Y đi cùng một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) đóng giả ông Trương Văn C là chủ thửa đất số 1040, tờ bản đồ số 13, xã V, huyện B đến gặp Công chứng viên Nguyễn Vĩnh P thuộc Văn phòng C5, ký Hợp đồng ủy quyền số 07645 cho Y được toàn quyền định đoạt đối với thửa đất nêu trên. Đến ngày 25/4/2017, Y sử dụng Hợp đồng ủy quyền số 07645 đại diện theo ủy quyền cho ông C ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 1040, tờ bản đồ số 13, xã V, huyện B cho ông Ngô Văn B tại Văn phòng C3 do Công chứng viên Trần Thị Thúy H3 chứng thực (Hợp đồng số 003691) với giá trị chuyển nhượng là 400.000.000 đồng.
Đến ngày 01/6/2017, Ngô Thị Y xuất trình giấy giao nhận số tiền đề ngày 25/4/2017 về việc thanh toán tiền mua bán thửa đất 1040, tờ bản đồ số 13, xã V, B; Chứng minh nhân dân, Sổ hộ khẩu, giấy xác nhận độc thân mang tên Trương Văn C và Hợp đồng ủy quyền số 07645 ngày 17/4/2017, cho bà Nguyễn Thị H xem. Sau đó bà H tin tưởng đặt cọc 1.000.000.000 đồng cho Y về việc nhận chuyển nhượng thửa đất 1040, tờ bản đồ số 13, xã V, B với giá 3.000.000.000 đồng.
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Ngô Thị Y phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, xử phạt bị cáo 17 năm tù, phần này không bị kháng cáo, kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.
Từ lời khai của bị hại Ngô Văn B thể hiện bị cáo Y là người chào bán đất và đều tự giới thiệu mình là “vợ nhỏ”, là “người sống chung” với ông Trương Văn C, việc thỏa thuận giá cả đều do Ngô Thị Y đứng ra thỏa thuận và nhận tiền, Đặng Văn T1 (người đóng giả ông Trương Văn C) chỉ là người ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng. Bị án Đặng Văn T1 cũng cho rằng T1 được Ngô Thị Y dắt đi đóng giả ông Trương Văn C để ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất, T1 không biết về giá cả, thủ tục mua bán với bị hại. Ngoài việc đi cùng Đặng Văn T1 đóng giả ông Trương Văn C ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 46, diện tích 2.681,8m², tờ bản đồ số 60, phường B, quận B cho bà Nguyễn Thị H thì Ngô Thị Y còn đi cùng một đối tượng (không rõ lai lịch) đóng giả ông Trương Văn C để ký ủy quyền số 07645 ngày 17/4/2017, từ ông Trương Văn C ủy quyền cho Ngô Thị Y toàn quyền định đoạt đối với thửa đất số 1040, diện tích 2.804m², tờ bản đồ số 13, xã V, huyện B. Sau đó Ngô Thị Y sử dụng hợp đồng ủy quyền này ký chuyển nhượng thửa đất số 1040 nêu trên cho ông Ngô Văn B và chiếm đoạt tiền của ông B.
Công chứng viên Nguyễn Vĩnh P thuộc Văn phòng C5, Thành phố Hồ Chí Minh, người thực hiện công chứng Hợp đồng Ủy quyền 07645 ngày 17/4/2017 (Bút lục 1027) trình bày: Ngô Thị Y là người liên hệ và cung cấp các tài liệu để yêu cầu công chứng hợp đồng ủy quyền, khi tiến hành công chứng, Trương Văn C và Ngô Thị Y đều có mặt cùng một lúc, ký trước mặt công chứng viên và ông P còn xác nhận người đứng tên Trương Văn C đến ký hợp đồng ủy quyền với Y không phải Đặng Văn T1.
[2.2] Xác định số tiền mà Ngô Thị Y đã nhận của Ngô Văn B:
[2.2.1] Ông Ngô Văn B cho rằng số tiền thực thanh toán cho việc chuyển nhượng đất là 2.000.000.000 đồng và theo biên nhận tiền được ghi phía mặt sau của giấy thỏa thuận đề ngày 25/4/2017 đã thể hiện Ngô Thị Y đã nhận đủ 2.000.000.000 đồng. Ngược lại, bị cáo Y cho rằng chưa nhận của ông B đồng nào.
[2.2.2] Cấp sơ thẩm xác định: theo biên nhận tiền được ghi phía mặt sau của giấy thỏa thuận đề ngày 25/4/2017 có nội dung là: “25/4/2017, tôi đã nhận đủ số tiền (2 tỷ đồng chẵn) 2.000.000.000 đồng”, nhưng biên nhận này không thể hiện Y nhận số tiền này của ai và nhận về việc gì, đồng thời theo Kết luận giám định đã xác định chữ ký phía dưới biên nhận tiền không phải do Ngô Thị Y ký, do đó không có cơ sở xác định Y đã nhận số tiền 2.000.000.000 đồng của ông Ngô Văn B.
[2.2.3] Theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 003691 ngày 25/4/2017 đã thể hiện giá chuyển nhượng là 400.000.000 đồng; theo Bản tự khai của ông Đàm Đức L3 (ông L3 là người đại diện theo ủy quyền cho ông Ngô Văn B, trong vụ án dân sự thụ lý số 279/2017/TLST-DS ngày 02/6/2017 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh) trình bày tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh có nội dung “ngày 25/4/2017 bà Y có bán cho ông B 01 thửa đất diện tích 2804 m², tờ bản đồ số 13, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, giá chuyển nhượng là 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng). Và hai bên có thỏa thuận sau 03 tháng, tức là ngày 25/7/2017 ông B sẽ bán lại cho bà Y với giá 02 tỷ đồng. Nay vì lý do bà Y phát đơn kiện nên ông B không đồng ý bán lại cho bà Y nữa” (Bút lục 792) và theo Đơn khiếu nại Kết luận điều tra ngày 23/12/2021 của Ngô Thị Y gửi Cơ quan CSĐT Công an Thành phố H có nội dung “... đến ngày 15/3/2017 tôi qua người giới thiệu gặp ông Ngô Văn B và ông B đồng ý cho tôi vay số tiền là 1 tỷ 500, tôi ra phòng công chứng ký hợp đồng mua bán với ông B và ông B đưa tôi trước 400.000.000 đồng... Sau lễ 30-4-2017, ông B sẽ trả cho tôi 01 tỷ và trong vòng 3 tháng tôi sẽ trả cho ông B 02 tỷ để chuộc lô đất về...” (Bút lục 331-332).
[2.2.4] Từ đó quy kết: với giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 003691 ngày 25/4/2017, cùng các lời trình bày của ông Đàm Đức L3 và Ngô Thị Y nêu trên xác định Ngô Thị Y đã nhận của ông Ngô Văn B 400.000.000 đồng là có căn cứ.
[2.3] Tại phiên tòa sơ thẩm cũng như trong nội dung đơn kháng cáo ông Ngô Văn B yêu cầu Văn phòng C5 phải bồi thường cho ông theo giá trị thửa đất 1040.
Xét thấy: bị cáo Ngô Thị Y là người đã đưa ra thông tin gian dối và chính Y là người đã chiếm đoạt tiền của ông Ngô Văn B nên bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho ông B. Văn phòng C5 đã thực hiện công chứng hợp đồng đúng quy định nên không có lỗi. Bị cáo Y chỉ mới nhận của ông B 400.000.000 đồng, do đó cấp sơ thẩm buộc bị cáo Y phải thường cho ông B toàn bộ số tiền này là có căn cứ nên không chấp nhận kháng cáo của bị hại Ngô Văn B1.
[2.4] Đối với Công chứng viên Nguyễn Vĩnh P là người thực hiện việc công chứng hợp đồng uỷ quyền giữa Trương Văn C và Ngô Thị Y do các đối tượng sử dụng người giả, giấy tờ giả qua giám định mới phát hiện. Quá trình điều tra chưa có căn cứ xác định Công chứng viên Nguyễn Vĩnh P thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố C, có Công văn thông báo cho Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh tiếp nhận xử lý Công chứng viên theo quy định của pháp luật. Cấp sơ thẩm không quy kết P đồng phạm với bị cáo Y, không bỏ lọt tội phạm với Nguyễn Vĩnh P nên không chấp nhận kháng cáo của bị hại Ngô Văn B.
[2.5] Đối với ông Trương Văn C: Trên cơ sở nội dung vụ án, không đủ cơ sở quy kết ông Trương Văn C đồng phạm với bị cáo Ngô Thị Y nên cấp sơ thẩm không truy tố, xét xử ông C với vai trò đồng phạm là có căn cứ, nên không chấp nhận kháng cáo về vấn đề này của ông Ngô Văn Y2.
[3] Về án phí: Bị hại Ngô Văn B phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [1] Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Ngô Văn B về phần trách nhiệm dân sự và bỏ lọt tội phạm, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm
- [2] Căn cứ vào Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Các Điều 584; 585; 588; 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - Buộc Ngô Thị Y bồi thường cho bà Nguyễn Thị H số tiền 989.000.000 đồng (chín trăm tám mươi chín triệu đồng), thi hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật;
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án nếu người có nghĩa vụ thi hành án chưa thực hiện nghĩa vụ nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi bổ sung năm 2014 (sau đây gọi tắt là Luật thi hành án dân sự) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- [3] Về án phí: Bị hại Ngô Văn B phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
- [4] Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
- [5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trí Tuấn |
Bản án số 859/2024/HS-PT ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 859/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Ngô Thị Y phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Ngô Văn B về phần trách nhiệm dân sự và bỏ lọt tội phạm, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm
