Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 859/2023/HS-PT

Ngày 16/11/2023

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tự Học;

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thúy Bình; Bà Đặng Thị Thơm

- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thanh Huyền, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Ông Nguyễn Huy Hoàng, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân cấp cao tại Hà Nội, Hội đồng xét xử mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 962/2023/TLPT-HS ngày 07 tháng 09 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 311/2023/HS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

* Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn B, sinh năm 1984; giới tính: Nam; nơi cư trú: thôn Nam C, xã Phạm Tr, huyện Gia L, tỉnh Hải Dương; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; tiền án, tiền sự: Chưa; nghề nghiệp: Kinh doanh; con ông Nguyễn Văn D và bà Hoàng Thị Ch; có vợ là Nguyễn Thị Thúy C1 và 01 con sinh năm 2012; bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 19/01/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội; có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn B: Luật sư Đinh Đức D1 - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; có mặt.

* Người bị hại có kháng cáo:

  1. Ông Nguyễn Quang L1, sinh năm 1958; cư trú tại: P803, 17T2, KĐT Trung Hòa Nhân Ch1, phường Trung H, quận Cầu Gi, thành phố Hà Nội; có mặt.
  2. Bà Trần Thị Th, sinh năm 1962; cư trú tại: P2001, 29T1, KĐT Trung Hòa Nhân Ch1, phường Trung H, quận Cầu Gi, thành phố Hà Nội; có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có những người bị hại khác không kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30/12/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội đã tiếp nhận tố giác của ông Kiều Văn Kh (sinh năm 1962, nơi HKTT: số 64, Tập thể Học viện Cảnh sát nhân dân, phường Cổ Nhuế 2, quận B Từ Liêm, Hà Nội); anh Đỗ Thanh Đ (sinh năm 1986, nơi HKTT: khu Đông Mới, thị trấn Cao Thượng, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang); ông Trịnh Bá S (sinh năm 1962, nơi HKTT: xã Yên Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang); ông Dương Văn Q (sinh năm 1975, nơi HKTT: xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, Hà Nội); bà Nguyễn Thị Thu Th1 (sinh năm 1991, nơi HKTT: xã Hồng Nam, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên); ông Vũ Đức Th2 (sinh năm 1982, Long Hưng, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên) tố giác Nguyễn Văn B làm Chủ tịch Hội đồng quản trị (HĐQT) kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1 có hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 4.500.000.000 đồng thông qua hợp đồng đặt cọc để mua 9 lô đất phân lô trong dự án.

Quá trình điều tra xác định: Công ty cổ phần xây dựng Thiên L1 do Nguyễn Văn B là Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc không phải là chủ đầu tư, không góp vốn theo hợp đồng hợp tác kinh doanh với Công ty 179 và Công ty Vũ Th2; Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1 do B làm Chủ tịch HĐQT Tổng Giám đốc không được phép thu tiền đặt cọc của khách hàng mua đất. Tuy nhiên, B đã đưa ra thông tin gian dối được phân phối độc quyền tại dự án xây dựng đường cụm công nghiệp Nghĩa Hòa - Khu trung tâm thị trấn Kép mở rộng, Khu dân cư thị trấn Kép, Lạng Giang, Bắc Giang rồi ký hợp đồng, thu tổng số tiền là 4.599.565.500 đồng, không giao đất như thỏa thuận rồi chiếm đoạt cụ thể như sau:

1. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt 3.099.565.500 đồng của ông Kiều Văn Kh (sinh năm 1962, nơi HKTT: số 64, Tập thể Học viện CSND, Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội):

Ngày 28/12/2017, UBND tỉnh Bắc Giang ra Quyết định số 2197/QĐ-UBND về việc phê duyệt Dự án xây dựng đường trục cụm công nghiệp Nghĩa Hòa - Khu trung tâm thị trấn Kép mở rộng theo hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT) (gọi tắt là dự án). Ngày 15/6/2018, UBND tỉnh Bắc Giang ra Quyết định số 850/QĐ-UBND về việc phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu thực hiện dự án. Theo quyết định này, nhà đầu tư trúng thầu là liên danh Công ty Cổ phần xây dựng 179 (Công ty 179) có địa chỉ tại số 221-223 đường Cầu Trạm, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang do ông Vũ Duy V (sinh năm 1961, trú tại: số 221-223 đường Cầu Trạm, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang) là Giám đốc và Công ty TNHH Vũ Th2 (Công ty Vũ Th2), địa chỉ tại: thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang do ông Vũ Duy Th2 - sinh năm 1960, trú tại 40 Lê Lợi, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang là Giám đốc. Để thực hiện dự án, ngày 16/7/2018 hai Công ty này đã liên danh thành lập doanh nghiệp là Công ty TNHH quản lý và xây dựng 668 (Công ty 668), địa chỉ tại: thôn Đầu Cầu, xã Yên Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang do ông Vũ Duy V là Tổng giám đốc, ông Vũ Duy Th2 là Chủ tịch Hội đồng thành viên. Công ty 668 có vốn điều lệ là 190 tỷ đồng. Tổng vốn đầu tư của dự án là 135.800.000.000 đồng, thời gian thực hiện hợp đồng là 24 tháng kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực. UBND tỉnh Bắc Giang thanh toán cho nhà đầu tư bằng giá trị quyền sử dụng đất của 10ha đất ở (phân lô, bán nền) trong tổng số 21,94 ha (hiện trạng là đất chưa giải phóng mặt bằng) thuộc quy hoạch chi tiết của 2 khu dân cư: Khu dân cư thôn Hạ (10,98 ha) và khu dân cư xã Nghĩa Hòa (10,96 ha).

Ngày 18/7/2018, UBND huyện Lạng Giang (được UBND tỉnh Bắc Giang ủy quyền) đã ký Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT) số 02/2018/HĐ-BT với liên danh Công ty cổ phần xây dựng 179 và Công ty TNHH Vũ Th2. Đến ngày 10/7/2020, UBND tỉnh Bắc Giang có Quyết định số 593/QĐ-UBND về việc chuyển mục đích sử dụng đất, giao đất (đợt 1) cho Công ty TNHH quản lý và xây dựng 668 để thực hiện dự án Khu dân cư thôn Hạ, xã Nghĩa Hòa, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang theo hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT).

Để thực hiện dự án, ngày 29/4/2019, Công ty cổ phần xây dựng 179 (Bên A), Công ty TNHH Vũ Th2 (Bên B) và Công ty cổ phần xây dựng Thiên L1 (địa chỉ tại số 224 Mai Anh Tuấn, phường Thành Công, quận Ba Đình, Hà Nội (Bên C) do Nguyễn Văn B là chủ tịch HĐQT) đã ký Hợp đồng hợp tác kinh doanh số 14/2019/HĐHTKD. Theo nội dung hợp đồng, Bên A góp 35%, Bên B góp 35%, Bên C góp 30 % vốn để thực hiện Dự án xây dựng đường trục Cụm công nghiệp xã Nghĩa Hòa - Khu trung tâm thị trấn Kép mở rộng theo hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT) và dự án khác: Dự án xây dựng Khu dân cư thôn Hạ, xã Nghĩa Hòa và Khu dân cư Nghĩa Hòa, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang (thanh toán dự án xây dựng đường trục CNN Nghĩa Hòa - Trung tâm thị trấn Kép mở rộng theo hợp đồng BT). Thời điểm chia lợi nhuận kể từ khi bắt đầu kinh doanh bán được hàng của dự án khác nêu trên. Việc phân chia kết quả kinh doanh và chịu chi phí lỗ theo tỷ lệ góp vốn.

Ngày 29/4/2019, Công ty 668 (Bên B) và Công ty cổ đầu tư địa ốc Thiên L1 (địa chỉ tại: Tầng 3, 382/17-19 Nguyễn Thị Minh Khai, phường 5, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh - hiện đã dừng hoạt động) do Nguyễn Văn B - Tổng Giám đốc (Bên A) đã ký Hợp đồng nguyên tắc phân phối độc quyền dự án số 15/2019/HĐPP/TL-668 để giao cho Bên A thực hiện dịch vụ phân phối môi giới bất động sản do Bên B là chủ sở hữu của Dự án xây dựng khu dân cư Thôn Hạ - xã Nghĩa Hòa và khu dân cư Nghĩa Hòa, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Dự án này được UBND tỉnh Bắc Giang sử dụng để thanh toán cho dự án Xây dựng đường trục Cụm Công nghiệp Nghĩa Hòa - Khu trung tâm thị trấn Kép mở rộng (theo hợp đồng BT). Theo nội dung hợp đồng: Giá bán bất động sản được hai bên thỏa thuận trên cơ sở giá do (Bên A) thẩm định tại thời điểm có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bên A không được tự ý thu các khoản tiền đặt cọc từ dự án.

Khoảng tháng 4/2019, Nguyễn Văn B đưa ra thông tin gian dối giới thiệu với anh Đỗ Thanh Đ (sinh năm 1986 ở khu Đông, phố Mới, thị trấn Cao Thượng, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang) là Công ty của B có đất nền tại dự án xây dựng khu dân cư thôn Hạ, xã Nghĩa Hòa và khu dân cư xã Nghĩa Hòa, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. B dẫn anh Đ đi xem đất của dự án và cho anh Đ xem Bản đồ quy hoạch tỷ lệ 1/500 Dự án xây dựng khu dân cư thôn Hạ, xã Nghĩa Hòa và Dự án khu dân cư Nghĩa Hòa, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang và Hợp đồng hợp tác kinh doanh số 14 ngày 29/4/2019 giữa Công ty cổ phần xây dựng Thiên L1 với Công ty cổ phần xây dựng 179 và Công ty TNHH Vũ Th2 nêu trên nhưng B không cho anh Đ xem Hợp đồng nguyên tắc phân phối độc quyền dự án số 15/2019/HĐPP/TL-668 ngày 29/4/2019 nêu trên theo hợp đồng này thì B (Bên A) không được tự ý thu các khoản tiền đặt cọc từ dự án (Điểm 4.2) và nhờ anh Đ môi giới bán đất nền của dự án trên, B hứa sẽ cho anh Đ 20% giá trị của hợp đồng bán đất nền của dự án cho khánh hàng (nhưng không có hợp đồng). Tin tưởng những thông tin nêu của B nên anh Đ đã rủ ông Kiều Văn Kh (là người quen của anh Đ) mua chung 10 xuất đất của Công ty cổ phần đầu tư Địa ốc Thiên L1 do Nguyễn Văn B - Tổng giám đốc bán nội bộ với giá ưu đãi, B cũng đưa ông Kh đi xem đất và giới thiệu về dự án như giới thiệu với anh Đ. Tuy nhiên, tại thời điểm tháng 5/2019 thì đất nền tại dự án trên chưa được bán vì chủ đầu tư là Công ty 179 và Công ty Vũ Th2 chưa được Nhà nước giao đất (ngày 10/7/2020 mới được giao đất), do vậy chưa được ký hợp đồng đặt cọc và thu tiền, ông Kh không biết thông tin này. Ông Kh tin tưởng B có dự án và được quyền phân phối và bán đất nền tại Dự án xây dựng khu dân cư thôn Hạ, xã Nghĩa Hòa và khu dân cư xã Nghĩa Hòa, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang nên đồng ý mua đất nền của dự án, ông Kh cũng nói thông tin về dự án nêu trên như B nói với ông Kh cho người nhà và bạn bè của ông Kh biết và cũng đồng ý nhờ ông Kh mua đất của dự án. Ngày 25/4/2019 ông Kiều Văn Kh (Bên đặt cọc, Bên A) ký 01 Hợp đồng đặt cọc với Nguyễn Văn B - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1 (Bên nhận tiền đặt cọc, Bên B) đặt cọc số tiền 200.000.000 đồng với mục đích để được mua đất nền tại dự án nêu trên “hợp đồng không ghi mua bao nhiêu lô đất, diện tích mỗi lô là bao nhiêu, với giá bao nhiêu tiền/m², hợp đồng này mang tính nguyên tắc”. Ngày 10/5/2019, ông Kh ký 06 Hợp đồng đặt cọc với Nguyễn Văn B - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1 (Bên nhận tiền đặt cọc, Bên B) mỗi hợp đồng đặt cọc 500.000.000 đồng để mua 6 lô đất nền, diện tích 100m²/01 lô, với giá 8.400.000 đồng/m², Nguyễn Văn B cam kết sau 6 tháng tiến hành bàn giao đất (sang tên quyền sử dụng đất cho bên A). ông Kh mua 1 lô, ông Hoàng Văn T và ông Vũ Quang H1 (là 2 em rể ông Kh), ông Dương Văn Q, ông Vũ Đức Th2, bà Nguyễn Thị Thu Th1 (là bạn bè ông Kh) ủy quyền cho ông Kh ký hợp đồng đặt cọc mỗi người mua 1 lô đất. Tổng số tiền ông Kh đã giao cho B theo các hợp đồng đặt cọc nêu trên là 3.099.565.500 đồng (ông Kh chuyển khoản 3,1 tỷ đồng nhưng Ngân hàng đã khấu trừ phí chuyển tiền nên số tiền còn lại như trên), như sau:

  • Ngày 25/4/2019, Nguyễn Văn B đã nhận của ông Kiều Văn Kh số tiền 200.000.000 đồng (Phiếu thu số 00001 ngày 25/4/2019 số tiền 200.000.000 đồng).
  • Ngày 10/5/2019, ông Kiều Văn Kh chuyển cho Nguyễn Văn B tổng cộng 2.799.565.500 đồng vào tài khoản số 0491000032998 của Nguyễn Văn B mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Thăng Long gồm các lần như sau: Lần 1 chuyển 249.994.500 đồng; Lần 2 chuyển 1.299.571.000 đồng; Lần 3 chuyển 1.250.000.000 đồng, nội dung các phiếu chuyển tiền đều ghi “Kieu Van Kh dat coc tien dat nen Kep Bac Giang".
  • Ngày 22/5/2019, ông Kh chuyển cho Nguyễn Văn B 100.000.000 đồng vào tài khoản số 0491000032998 của Nguyễn Văn B mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Thăng Long gồm 2 lần: Lần 1, chuyển 50.000.000 đồng; Lần 2, chuyển 50.000.000 đồng, ghi nội dung phiếu chuyển tiền đều ghi: “Gop von DA Kep”, tổng số tiền B nhận của ông Kh 3.099.565.500 đồng, B đã sử dụng số tiền nhận của ông Kh như sau:
  • Ngày 10/5/2019, B đã chuyển khoản vào TK 00731000789319 của Công ty 179 và Công ty Vũ Th2 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam tỉnh Bắc Giang số tiền 2.000.005.500 đồng, với nội dung phiếu chuyển tiền ghi: “CONG TY XAY DUNG THIEN LAN GOP VON VOI CONG TY 179 VA CONG TY VU THINH”. Số tiền còn lại là 1.099.560.000 đồng, B sử dụng để chi tiêu cá nhân hết.
  • Ngày 23/5/2019, do phát hiện B tự ý thu tiền đặt cọc mua đất nền tại dự án nên Đ diện chủ đầu tư là Công ty 179, Công ty Vũ Th2 và Công ty 668 đã cùng Công ty cổ phần xây dựng Thiên L1, Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1 đã ký thanh lý chấm dứt hợp đồng hợp tác kinh doanh, ký biên bản làm việc với nội dung: Thanh lý, chấm dứt toàn bộ Hợp đồng hợp tác kinh doanh số 14/2019/HĐHTKD và Hợp đồng nguyên tắc phân phối độc quyền dự án số 15/2019/HĐPP/TL-668. (Lý do thanh lý hợp đồng hợp tác kinh doanh là do Công ty cổ phần xây dựng Thiên L1 không thực hiện góp vốn bằng tiền mặt vào Công ty 668; lý do thanh lý hợp đồng phân phối độc quyền dự án là do Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1 thực hiện một số giao dịch bất hợp pháp, thu tiền đặt cọc của khách hàng có nhu cầu mua đất).

Xác minh tại UBND tỉnh Bắc Giang xác định: Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1, Công ty cổ phần xây dựng Thiên L1 không được UBND tỉnh Bắc Giang giao đất, cho thuê đất tại dự án nêu trên. UBND tỉnh Bắc Giang, Sở TN&MT tỉnh Bắc Giang chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1, tại Dự án xây dựng khu dân cư thôn Hạ, xã Nghĩa Hòa và khu dân cư xã Nghĩa Hòa, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Tại thời điểm tháng 5/2019, Sở TN&MT tỉnh Bắc Giang chưa có văn bản thông báo Quyền sử dụng đất đủ điều kiện để đưa vào kinh doanh tại dự án nêu trên.

Xác minh tại Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh xác định Nguyễn Văn B là Chủ tịch HĐQT của Công ty xây dựng Thiên L1, đồng thời là Tổng giám đốc kiêm người Đ diện theo pháp luật của Công ty cổ phần địa ốc Thiên L1.

Xác minh sao kê của ông Kiều Văn Kh số tài khoản 21510001159478 mở tại ngân hàng BIDV - chi nhánh Cầu Giấy phù hợp với lời khai của ông Kh đã chuyển tiền cho Nguyễn Văn B.

Xác minh sao kê TK của Nguyễn Văn B 0491000032998 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Thăng Long phù hợp với lời khai của ông Kh.

Kết luận giám định số 1759/KL-KTHS ngày 22/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội: Hợp đồng nguyên tắc phân phối độc quyền dự án số 15/2019/HĐPP/TL-668 và Biên bản làm việc số 16/2019/BBLV ngày 23/5/20019; bản thanh lý Hợp đồng số 14/2019/HĐHTKD ngày 23/5/2019, Kết luận: chữ viết, chữ ký trên các HĐ là của Nguyễn Văn B.

Kết luận giám định số 4356/KLGĐ-PC09 (Đ3) ngày 02/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội: 08 “Hợp đồng đặt cọc” bên nhận đặt cọc đứng tên Nguyễn Văn B cùng với 01 Phiếu thu số 00001 ngày 25/4/2019, Kết luận: chữ ký trên là do Nguyễn Văn B ký và viết ra.

Kết luận giám định số 2669/KL-KTHS ngày 20/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội: 01 Phiếu chi số 0005 đề ngày 25/4/2019; 01 Phiếu chi số 00012 đề ngày 14/5/2019, Kết luận: giám định chữ ký chữ viết họ tên Đỗ Thanh Đ là do cùng một người ký và viết ra.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn B khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dụng vụ án, B đã vi phạm hợp đồng quy định tại mục 4.2 Điều 4 của Hợp đồng số 15 hợp đồng nguyên tắc phân phối độc quyền dự án thì B không được thu tiền đặt cọc mua đất của khách hàng và dự án nêu trên.

Người bị hại ông Kiều Văn Kh, ông Vũ Đức Th2 và ông Vũ Quang H1 (là 2 em rể ông Kh), ông Dương Văn Q, ông Hoàng Văn T, bà Nguyễn Thị Thu Th1 khai báo như nội dung vụ án nêu trên.

Về dân sự: Ông Kiều Văn Kh yêu cầu B trả lại số tiền chiếm đoạt là 3.100.000.000 đồng và đề nghị xử lý B theo quy định.

2. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 1.500.000.000 đồng của anh Lê Xuân H2 (sinh năm 1989, nơi ĐKHKTT Cấp Tiến, Sơn Dương, Tuyên Quang), bà Lưu Thị H3 (sinh năm 1971, HKTT: Ngọc Vân, Tân Yên, Bắc Giang) và ông Trịnh Bá S (sinh năm 1962, ở Mai Thưởng, Yên Sơn, Lục Nam, Bắc Giang):

Khoảng tháng 5/2019, anh Đỗ Thanh Đ giới thiệu về dự án nêu trên với bà Lưu Thị H3 (cùng quê với anh Đ), anh Lê Xuân H2 (là con rể bà H3), ông Trịnh Bá S (là thông gia với bố của anh Đ) như B giới thiệu với anh Đ, bà H3, anh H2, ông S tin tưởng công ty của B có đất nền tại dự án nêu trên bán. Ngày 24/5/2019, anh Đ, bà H3, anh H2, ông S đã đến Công ty của B tại 104 phố Vũ Phạm Hàm, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội gặp B để thỏa thuận ký hợp đồng đặt cọc mua bán đất nền của dự án nêu trên. Mặc dù ngày 23/5/2019, Công ty 688 và B đã thanh lý Hợp đồng số 14 và chấp dứt Hợp đồng số 15 theo Biên bản làm việc số 16/2019 nhưng Nguyễn Văn B không nói cho anh Đ và các bị hại nêu trên biết nên bà H3, anh H2, ông S đã ký hợp đồng như sau:

Ngày 24/5/2019, anh Lê Xuân H2 và bà Lưu Thị H3 đã ký với Nguyễn Văn B - Tổng giám đốc Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1 02 Hợp đồng đặt cọc số 0008 và số 0009 để mua 02 lô đất số LK22 và LK23 thuộc Khu liền kề 02 tại Dự án khu dân cư thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh B Giang (tại vị trí đối diện với Tổng Công ty may Bắc Giang) với giá 7.500.000 đồng/1m² (diện tích mỗi lô là 100m²), cam kết trong thời hạn 06 tháng hoặc 01 năm đến ngày 24/5/2020 sẽ bàn giao đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh H2 và bà H3. Trong thời gian từ ngày 24/5/2019 và ngày 12/6/2019 anh H2 và bà H3 đã nộp tiền đặt cọc số tiền 1.000.000.000 đồng cho 02 lô đất nêu trên theo các phiếu thu: Phiếu thu số 19 ngày 24/5/2019, số tiền 50.000.000 đồng của Lê Xuân H2; Phiếu thu số 20 ngày 24/5/2019, số tiền 50.000.000 đồng của Lưu Thị H3; Phiếu thu số 22 ngày 12/6/2019 số tiền 350.000.000 đồng của Lê Xuân H2; Phiếu thu số 23 ngày 12/6/2019, số tiền 350.000.000 đồng của Lưu Thị H3 (các phiếu thu đều ghi đặt cọc đất nền dự án Kép - Bắc Giang), tổng số tiền là 800.000.000 đồng, bà H3 và anh H2 vay 200.000.000 đồng của anh Đ để nộp cho công ty của B, nhưng công ty của B chưa viết phiếu thu tiền. Anh H2, bà H3 đã trả cho anh Đ số tiền 200.000.000 đồng. Quá hạn cam kết, B vẫn không bàn giao được đất và không trả lại tiền cho anh H2 và bà H3, nên anh H2 và bà H3 đã gửi đơn đến Công an quận Cầu Giấy điều tra về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Quá trình điều tra anh Đỗ Thanh Đ (là người môi giới) đã trả cho anh H2 bà H3 số tiền 1.000.000.000 đồng.

Trong thời gian này anh Đ cũng giới thiệu ông Trịnh Bá S là (thông gia với gia đình anh Đ) đến Công ty của B địa chỉ số 104 phố Vũ Phạm Hàm, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Nội, gặp B để thỏa thuận ký hợp đồng đặt cọc mua đất nền của dự án nêu trên. Ngày 24/5/2019, ông Trịnh Bá S đã ký với Nguyễn Văn B - Tổng giám đốc Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1 Hợp đồng đặt cọc số 0007 để đặt cọc mua 01 lô đất nền Dự án khu dân cư thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang với giá 7.500.000 đồng/1m², diện tích 100m², cam kết trong thời hạn 06 tháng hoặc 01 năm đến ngày 24/5/2020 sẽ bàn giao đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S, cùng ngày 24/5/2019 ông S đã trực tiếp nộp tiền mặt cho Công ty số tiền 500.000.000 đồng, Công ty có xuất phiếu thu cho ông Trịnh Bá S (nhưng hiện đã làm thất lạc phiếu thu). Khi hết thời hạn cam kết Nguyễn Văn B không giao đất và các giấy tờ về đất cho ông S, ông S đã đưa các tài liệu cho anh Đỗ Thanh Đ gồm Hợp đồng và phiếu thu để anh Đ đòi tiền Nguyễn Văn B nhưng B không trả, nên anh Đ đã tự bỏ tiền cá nhân trả lại cho ông Trịnh Bá S 500.000.000 đồng.

Xác minh tại Sở xây dựng tỉnh Bắc Giang xác định vị trí 02 lô đất đối diện Tổng Công ty may Bắc Giang như ông H2 mô tả không phải là đất thuộc Dự án khu dân cư thị trấn Kép, Lạng Giang, Bắc Giang mà là Dự án xã Nghĩa Hòa, Lạng Giang, Bắc Giang do Công ty TNHH quản lý và xây dựng 668 làm chủ đầu tư. Sở xây dựng tỉnh Bắc Giang và UBND huyện Lạng Giang khẳng định không chấp thuận bất cứ chủ trương đầu tư dự án xây dựng khu dân cư nào cho Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1 và Công ty cổ phần xây dựng Thiên L1.

Kết luận giám định số 4351/KLGĐ-PC09-Đ3-Công an thành phố Hà Nội: Chữ viết chữ ký mang tên Nguyễn Văn B trên các mẫu giám định và chữ viết chữ ký của Nguyễn Văn B tại các bản tường trình và ghi lời khai là do cùng một người viết và ký ra. Mẫu dấu tròn đỏ trên mẫu giám định và mẫu dấu tròn đỏ trên mẫu so sánh thu thập tại cổng thông tin điện tử của Bộ kế hoạch và đầu tư đều do một con dấu đóng ra.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn B đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án nêu trên.

Người bị hại bà Lưu Thị H3, anh Lê Xuân H2, ông Trịnh Bá S khai như nội dung vụ án nêu trên.

Về dân sự: anh Đỗ Thanh Đ đề nghị Nguyễn Văn B trả lại số tiền chiếm đoạt 1.500.000.000 đồng (là số tiền anh Đ đã trả cho anh H2, bà H3 và ông S) và đề nghị xử lý B theo quy định của pháp luật.

Đối với anh Đỗ Thanh Đ khai như nội dung vụ án nêu trên. Cơ quan điều tra thu giữ của Đỗ Thanh Đ 02 phiếu chi do Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1 chi tiền hoa H3 cho anh Đ vì có công giới thiệu ông Kh, bà H3, anh H2 và ông S mua đất của Công ty cổ phần địa ốc Thiên L1 do B làm Tổng giám đốc: Phiếu chi số 12 ngày 14/05/2019 số tiền 540.000.000 đồng; Phiếu chi số 05 ngày 25/04/2019 số tiền 5.000.000 đồng, tổng số tiền là 545.000.000 đồng. Anh Đỗ Thanh Đ được B giới thiệu về dự án nêu trên và được B cho xem các tài liệu pháp lý về dự án bao gồm: Bản đồ quy hoạch tỷ lệ 1/500 và Hợp đồng hợp tác kinh doanh số 14 ngày 29/4/2019 giữa Công ty cổ phần xây dựng Thiên L1 với Công ty cổ phần xây dựng 179 và Công ty TNHH Vũ Th2, nhưng B không cho anh Đ xem Hợp đồng nguyên tắc phân phối độc quyền dự án số 15/2019/HĐPP/TL-668 ngày 29/4/2019 về việc B (Bên A) không được tự ý thu các khoản tiền đặt cọc từ dự án (Điểm 4.2), sau đó đưa anh Đ đi xem đất của dự án. Anh Đ tin Công ty của B là chủ đầu tư dự án có quyền bán đất nền của dự án nên đã giới thiệu ông Kh, bà H3, anh H2 và ông S mua đất và được B trả tiền hoa hồng theo thuận là 545.000.000 đồng. Sau khi B không bàn giao đất và không trả lại tiền cho bị hại thì anh Đ đã tự bỏ tiền cá nhân trả cho bà H3, anh H2, ông S tổng số tiền là 1.500.000.000 đồng. Vì vậy anh Đỗ Thanh Đ không đồng phạm với Nguyễn Văn B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, nên Cơ quan điều tra không xử lý về hình sự đối với anh Đỗ Thanh Đ.

Đối với ông Kiều Văn Kh, được anh Đ giới thiệu về dự án và đưa đi gặp Nguyễn Văn B, B đưa ông Kh và anh Đ đi xem đất của dự án và cho ông Kh xem các tài liệu pháp lý về dự án như B đã cho anh Đ xem. Ông Kh tin tưởng nên đã đồng ý mua đất nền của dự án và giới thiệu 5 người (trong đó có 2 em rể và 3 người bạn) ký hợp đồng mua 6 lô đất (trong đó ông Kh mua 01 lô đất), ông Kh đã chuyển cho B 3.099.565.500 đồng (trong đó tiền của ông Kh là 599.565.500 đồng). Quá trình điều tra bổ sung anh Đ khai chi cho ông Kh số tiền khoảng 20-30 triệu đồng để cảm ơn ông Kh giới thiệu khách đến mua đất của B, nhưng ông Kh không thừa nhận, ngoài lời khai của anh Đ thì không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh, nên không có căn cứ kết luận ông Kh nhận tiền hoa hồng môi giới từ anh Đ. Ông Kh không biết Công ty của B không có quyền bán đất nền của dự án nêu trên và không được hưởng lợi ích gì về việc mua bán đất của dự án. Vì vậy ông Kh không đồng phạm với Nguyễn Văn B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, nên Cơ quan điều tra không xử lý về hình sự đối với ông Kiều Văn Kh.

3. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 3.000.000.000 đồng của ông Nguyễn Quang L1 (sinh năm 1958; HKTT: P803-17T2 KĐT Trung Hòa Nhân, Nhân Chính, phường Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội) và bà Trần Thị Th (sinh năm 1962 HKTT: P2001-29T1 KĐT Trung Hòa Nhân Ch1, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội):

Cuối năm 2018, ông Nguyễn Quang L1 có quen biết với Nguyễn Văn B, được B giới thiệu về dự án khu công nghiệp Phước Đông I, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh do Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1 làm chủ đầu tư, tin tưởng B có đất nền muốn bán, nên tháng 2/2019, ông Nguyễn Quang L1 và bà Trần Thị Th đến Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1 do Nguyễn Văn B làm Tổng Giám đốc người đại diện theo pháp luật, để mua đất nền tại dự án Khu công nghiệp Phước Đông I, thửa 15, Khu Công nghiệp Phước Đông và thửa đất số 1143; 1144 tờ bản đồ số 15 tại ấp Phước Bình A, xã Phước Thạch, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Ngày 30/01/2019, ngày 01/02/2019, ngày 01/03/2018 Nguyễn Văn B và ông Nguyễn Quang L1 và bà Trần Thị Th đã ký Hợp đồng mua bán đất nền và hưởng cổ phần và hợp đồng đặt cọc của Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1 đại diện là Nguyễn Văn B. Nội dung hợp đồng đặt cọc, ông L1 đặt cọc cho Công ty cổ phần địa ốc Thiên L1 để thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 1143 và 1144 tờ bản đồ số 15 tại ấp Phước Bình A, xã Phước Thạch, Gò Dầu, Tây Ninh, trong hợp đồng mua bán đất nền và hưởng cổ phần có nêu việc Công ty cổ phần địa ốc Thiên L1 cam kết chuyển nhượng quyền sự dụng đất nền chia lô (đất thổ cư) tại Dự án khu công nghiệp Phước Đông I, thửa 15, Khu công nghiệp Phước Đông, Gò Dầu, Tây Ninh. Trong hợp đồng có thỏa thuận “trong vòng 60 ngày Công ty Thiên L1 sẽ bàn giao đất và sổ đỏ cho ông L1 và bà Th, Công ty địa ốc Thiên L1 sẽ trả lợi nhuận cho người nộp tiền mua đất nền với tỉ lệ 35%/năm nếu không nhận đất. Nếu người mua nhận được đất mà giá đất rẻ hơn số tiền đã nộp thì sẽ được hưởng lợi nhuận từ số tiền chênh lệch này với tỉ lệ 20% trong 36 tháng”. Ngày 28/02/2019; 19/02/2019; 13/03/2019 ông Nguyễn Quang L1 và bà Trần Thị Th đã nộp 3.000.000.000 đồng (mỗi người nộp 1,5 tỷ đồng) tiền mặt và chuyển khoản cho B số TK 00491000032988 mở tại Ngân hàng Vietcombank. (Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1 đã xuất phiếu thu tiền của ông L1 và bà Th, phiếu thu có chữ ký của Tổng giám đốc Nguyễn Văn B và đóng dấu tròn đỏ của Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1. Ngày 28/02/2019 B đã chuyển khoản số tiền 90.000.000 đồng cho ông L1 và bà Th số tiền 60.000.000 đồng vào tài khoản của bà Th tại ngân hàng SeaBank) đây là số tiền lợi nhuận 2 tháng (tháng 3 và tháng 4/2019). Từ đó đến nay, Công ty không trả thêm bất kỳ khoản tiền nào, không nhận được đất và sổ đỏ. Khi ký hợp đồng mua bán, ông L1 và bà Th đã đến xem Dự án khu công nghiệp Phước Đông I thuộc Khu Công nghiệp Phước Đông, Gò Dầu, Tây Ninh (do lâu không nhớ) nhưng không thấy treo biển dự án mà chỉ thấy các mảnh đất đã được chia lô sẵn. Ông L1 và bà Th cũng chưa được xem giấy phép đầu tư dự án hay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1. Theo thỏa thuận hợp đồng, trong vòng 60 ngày Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1 sẽ bàn giao đất và sổ đỏ cho ông L1 và bà Th. Nhưng đến tháng 9/2020, ông L1 và bà Th vẫn chưa được bàn giao đất cũng như sổ đỏ. Ông L1 có tìm đến Công ty địa ốc Thiên L1 (tại 104 Vũ Phạm Hàm, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội) để đòi lại tiền mua đất nhưng Công ty địa ốc Thiên L1 không còn hoạt động tại địa chỉ trên và cũng không trả lại tiền cho ông L1 và bà Th. Do vậy, ông Nguyễn Quang L1 và bà Trần Thị Th gửi đơn đến Công an quận Cầu Giấy tố cáo Nguyễn Văn B có về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 30/03/2021 Cơ quan CSĐT- Công an quận Cầu Giấy thu giữ: 01 Phiếu thu số 054 ngày 13/3/2019, số tiền 1.500.000.000 đồng của ông Nguyễn Quang L1 (đăng ký tham gia cổ đông Công ty cổ phần địa ốc Thiên L1 đợt 1); 01 Phiếu thu số 009 ngày 28/02/2019, số tiền 1.350.000.000 đồng của Trần Thị Th (mua đất Công ty); 01 Phiếu thu số 026 đề ngày 19/02/2019, số tiền 150.000.000 đồng của bà Trần Thị Th (hợp đồng đặt cọc 19/02/2019); Hợp đồng đặt cọc; Hợp đồng mua bán đất nền và hưởng cổ phần.

Xác minh tại UBND tỉnh Tây Ninh xác định không tồn tại dự án khu công nghiệp Phước Đông I, thửa 15, khu công nghiệp Phước Đông, Gò Dầu, Tây Ninh. Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1 và Nguyễn Văn B cũng không được cấp quyền sử dụng thửa đất số 1143; 1144 tờ bản đồ số 15 tại ấp Phước Bình A, xã Phước Thạch, Gò Dầu, Tây Ninh và không được phép mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất trên: Thửa đất 1143 và 1144 được cấp quyền sử dụng cho bà Nguyễn Thị Anh K (sinh năm 1986; trú tại: 125A Điện Biên Phủ, tổ 8, khu phố Ninh Tân, phường Ninh Sơn, thành phố Tây Ninh) theo loại đất trồng cây lâu năm, hiện đã hợp thửa mới là 1244 của tờ bản đồ số 15.

Xác minh đối với bà Nguyễn Thị Anh K: Bà K mua thửa đất số 1143; 1144 (nay là thửa đất số 1244) từ vợ chồng bà Trương Hạ Vi và ông Trần Xuân Lịch Sự vào tháng 11/2019 theo hợp đồng chuyển nhượng được chứng thực tại Văn phòng công chứng Trịnh Văn Chẹt vào ngày 15/11/2019. Theo hợp đồng chuyển nhượng, vợ chồng bà Vi chuyển nhượng thửa đất số 1244, tờ bản đồ số 18 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR343311, vào sổ giấy chứng nhận số CS04336 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Tây Ninh cấp ngày 03/4/2019.

Tại sao kê do Ngân hàng Seabank cung cấp, ngày 08/4/2019, tài khoản số 1800000112596 của bà Th đã nhận được 30.000.000 đồng với nội dung “CTY THIEN LAN THANH TOAN CHIA LOI NHUAN CO DONG THANG 3 2019” và ngày 08/5/2019 tài khoản của bà Th tiếp tục nhận được 30 triệu đồng với nội dung “CTY THIEN LAN CHUYEN TIEN THANG 4”.

Ngày 30/01/2019; 01/2/2019, ngày 28/02/2019, tài khoản tại Ngân hàng Vietcombank của Nguyễn Văn B số 0491000032998 nhận được số tiền 1.200.000.000 đồng với nội dung “NGUYEN QUANG LAC NOP TIEN DAT COC MUA DAT” và số tiền 1.350.000.000 đồng với nội dung “tran thi thinh nop tien mua dat cua cong ty co phan dia oc thien lan"

Kết luận giám định số 4922/KLGĐ-PC09-Đ3 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận:

  • Hình dấu tròn “CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ ĐỊA ỐC THIÊN LAN” trên các mẫu cần giá định với hình dấu tròn “CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ ĐỊA ỐC THIÊN LAN” mẫu được đăng tải trên cổng thông tin về đăng ký doanh nghiệp quốc gia (địa chỉ: https://dangkydoanhnghiep.gov.vn) là hình dấu của cùng một con dấu.
  • Chữ viết phần nội dung và chữ ký, chữ ký dòng họ tên Nguyễn Văn B dưới chữ ký trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A5, A6; Chữ viết phần nội dung và chữ viết có nội dung “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam... phải làm thủ tục ra sổ trong 30 ngày) trên mẫu cần giám định ký hiệu A7; Chữ ký đứng tên Nguyễn Văn B trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A7 đến A9 với chữ viết, chữ ký đứng tên Nguyễn Văn B trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 là do cùng một người viết ra.
    • Chữ ký đứng tên Nguyễn Văn B trên các mẫu cần giám định ký hiệu A2, A3 là hình dấu chữ ký, không tiến hành giám định do không có mẫu so sánh phù hợp.
  • Chữ ký, chữ viết dòng họ tên “Nguyễn Q L1” dưới chữ ký trên mẫu cần giám định A2.
    • Chữ ký ở góc dưới cùng bên phải và chữ ký đứng Nguyễn Quang L1 trên mẫu cần giám định ký hiệu A7.
    • Chữ ký ở góc dưới cùng bên phải và chữ ký dưới mục “Bên B” trên mẫu cần giám định ký hiệu A8
    Với chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Quang L1 trên các mẫu so sánh ký hiệu M5, M6 là chữ do cùng một người ký và viết ra.
    • Không đủ cơ sở kết luận chữ viết dòng họ tên Nguyễn Quang L1 dưới chữ ký trên mẫu cần giám định ký hiệu A7 với chữ viết đứng tên Nguyễn Quang L1 trên các mẫu so sánh ký hiệu M5, M6 có phải là chữ do cùng một người viết ra hay không.
  • Chữ ký đứng tên Trần Thị Th trên mẫu cần giám định ký hiệu A3 và chữ ký chữ, chữ viết dòng họ tên Trần Thị Th dưới chữ ký trên các mẫu so sánh ký hiệu M7, M8 là chữ do cùng một người ký và viết ra.
    • Không đủ cơ sở kết luận chữ ký, chữ viết dòng họ tên Trần Thị Th dưới chữ ký trên mẫu cần giám định ký hiệu A9 với chữ ký, chữ viết đứng tên Trần Thị Th trên các mẫu so sánh ký hiệu M7, M8 có phải là chữ do cùng một người ký và viết ra hay không.
  • Chữ viết dòng họ tên Trần Thị Th dưới chữ ký trên mẫu cần giám định ký hiệu A3; chữ viết phần nội dung, chữ ký, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Văn B dưới chữ ký và chữ ký, chữ viết dòng họ tên Trần Thị Th dưới chữ ký trên mẫu cần giám định ký hiệu A4 mờ, nhạt nên không tiến hành giám định.

Tại Cơ quan điều tra: Nguyễn Văn B khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên, Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1 không phải chủ đầu tư của Dự án khu công nghiệp Phước Đông I và cũng không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 1143; 1144 tờ bản đồ số 5 tại ấp Phước Bình A, xã Phước Thạch, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Số tiền chiếm đoạt của ông L1 và bà Th, B đã sử dụng hết số tiền trên vào việc cá nhân.

Người bị hại ông L1 và bà Trần Thị Th khai như nội dung vụ án nêu trên.

Về dân sự: ông Nguyễn Quang L1 và bà Trần Thị Th yêu cầu B phải trả lại số tiền chiếm đoạt là 3 tỷ đồng và xử lý B theo quy định của pháp luật.

Đối với ông Vũ Đình L2 (sinh năm 1971, xóm Nội, xã Hương Mạc, Lạng Giang, Bắc Giang). Năm 2019 B nhờ ông L2 làm Giám đốc Công ty cổ phần xây dựng Thiên L1, B làm Chủ tịch HHĐQT, ngày 20/4/2019 Công ty cổ phần xây dựng Thiên L1 ban hành giấy ủy quyền số 02 người ủy quyền là ông Vũ Đình L2 và người nhận ủy quyền ông Nguyễn Văn B nội dung ủy quyền “thay mặt Giám đốc Công ty CP Xây Dựng Thiên L1 thực hiện việc thỏa thuận, ký kết hợp đồng kinh tế và các hồ sơ liên quan đến hợp đồng và hoạt động của Công ty”. Ông L2 không biết việc B ký hợp đồng đặt cọc và thu tiền của khách hàng như đã nêu trên. Do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với ông L2.

Ngày 07/4/2022, Cơ quan điều tra đã thu của ông Vũ Duy V - Giám đốc Công ty cổ phần xây dựng 179 số tiền 2.000.005.500 đồng do B đã chuyển cho Công ty của ông V (B khai sau khi thu tiền đặt cọc của ông Kh, B nộp số tiền trên vào Công ty của ông Vũ Duy V để góp vốn theo Hợp đồng hợp tác kinh doanh số 14/2019/HĐHTKD).

Cáo trạng số 248/CT-VKSHN-P3 ngày 13/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 311/2023/HS-ST ngày 26/07/2023, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 17 (mười bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2022.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015; buộc bị cáo phải trả lại số tiền 7.599.565.500 đồng đã chiếm đoạt của các bị hại, cụ thể:

  • Ông Kiều Văn Kh 3.099.565.500 đồng;
  • Bà Lưu Thị H3 500.000.000 đồng;
  • Ông Trịnh Bá S 500.000.000 đồng;
  • Ông Nguyễn Quang L1 1.500.000.000 đồng;
  • Bà Trần Thị Th 1.500.000.000 đồng.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/8/2023, người bị hại là ông Nguyễn Quang L1 và bà Trần Thị Th có đơn kháng cáo đề nghị tăng hình phạt lên tù chung thân đối với bị cáo và buộc bị cáo phải hoàn trả số tiền cho ông, bà như bản án sơ thẩm đã tuyên.

Tại phiên tòa sơ thẩm,

Bị cáo Nguyễn Văn B thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bị hại ông Nguyễn Quang L1 và bà Trần Thị Th giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tăng hình phạt và buộc bị cáo phải bồi thường số tiền đã chiếm đoạt của ông, bà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo của người bị hại, có quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, mức hình phạt 17 năm tù đối với bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo của ông L1, bà Th. Về nội dung kháng cáo buộc bị cáo phải hoàn trả số tiền đã chiếm đoạt của ông L1, bà Th: Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên buộc bị cáo phải hoàn trả số tiền chiếm đoạt của các bị hại, do vậy các bị hại có quyền gửi đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành phần trách nhiệm dân sự khi bản án có hiệu lực pháp luật. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Quang L1, bà Trần Thị Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, những người tham gia tố tụng không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Kháng cáo của người bị hại ông Nguyễn Quang L1, bà Trần Thị Th trong hạn luật định, được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn B thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở kết luận: Nguyễn Văn B là Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần xây dựng Thiên L1, Tổng giám đốc Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1. Thời gian từ ngày 25/4/2019 đến ngày 24/5/2019, B đã đưa ra thông tin gian dối, Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1 được bán đất nền tại Dự án xây dựng khu dân cư thôn Hạ, xã Nghĩa Hòa và khu dân cư Nghĩa Hòa, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang khiến nhiều bị hại tin tưởng đã ký hợp đồng đặt cọc với Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1 do Nguyễn Văn B làm Tổng giám đốc để mua các lô đất nền của dự án trên, cụ thể: Ông Kiều Văn Kh ký 07 hợp đồng để đặt cọc mua 06 lô đất và chuyển cho B 3.099.565.500 đồng; ngày 24/5/2019 anh Lê Xuân Hiếu và bà Lưu Thị H3 mỗi người ký hợp đồng và chuyển cho B 1.000.000.000 đồng (mỗi người 500.000.000 đồng) để mua 02 lô đất nền số LK22 và LK23; ông Trịnh Bá S ký hợp đồng và chuyển cho B 500.000.000 đồng để mua 01 lô đất nền, tổng số tiền B nhận của các bị hại nêu trên là 4.599.565.500 đồng. Đến hết thời hạn cam kết theo hợp đồng đặt cọc B không giao đất và không trả lại tiền cho các bị hại mà chiếm đoạt chi tiêu cá nhân.

Ngoài ra, B còn đưa ra thông tin gian dối Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1 có đất nền dự án khu công nghiệp Phước Đông 1, thửa 15, khu công nghiệp Phước Đông và thửa 1143, 1144, tờ bản đồ 15 tại ấp Bình Phước A, xã Phước Thạch, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, tin tưởng B nên ngày 30/01/2019, 01/02/2019, 01/3/2019, ông Nguyễn Quang L1 và bà Trần Thị Th đã ký hợp đồng mua bán đất nền và hưởng cổ phần và hợp đồng đặt cọc của Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Thiên L1 do Nguyễn Văn B làm Tổng giám đốc. Sau khi ký hợp đồng, ông Nguyễn Quang L1 và bà Trần Thị Th đã nộp cho B số tiền 3.000.000.000 đồng (của ông L1 1.500.000.000 đồng, của bà Th 1.500.000.000 đồng). Sau khi nhận tiền, B đã chiếm đoạt để chi tiêu cá nhân hết, đến nay chưa trả lại tiền cho các bị hại.

Tổng số tiền B đã chiếm đoạt của ông Kh, anh H2, bà H3, ông S, ông L1, bà Th là 7.599.565.500 đồng.

Do có hành vi nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng vẫn cố tình phạm tội, do vậy cần phải xử phạt nghiêm minh mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn B không kháng cáo nên Hội đồng xét xử không xét.

Xét kháng cáo của người bị hại ông Nguyễn Quang L1, bà Trần Thị Th, Hội đồng xét xử thấy:

Về nội dung kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời đã xem xét nhân thân bị cáo, áp dụng đầy đủ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 17 năm tù là có căn cứ, không nhẹ như nội dung kháng cáo của các bị hại. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo của ông L1, bà Th.

Về nội dung kháng cáo đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường đã chiếm đoạt của ông L1, bà Th, Hội đồng xét xử thấy: Bản án sơ thẩm tuyên buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt của các bị hại, trong đó trả ông L1 1.500.000.000 đồng, bà Th 1.500.000.000 đồng bị cáo đã chiếm đoạt của ông L1, bà Th là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông L1, bà Th có quyền gửi đơn đến cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu thi hành bản án, buộc bị cáo phải hoàn trả ông, bà số tiền đã chiếm đoạt. Do vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông L1, bà Th về nội dung này.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa và ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[3] Về án phí: Ông Nguyễn Quang L1, bà Trần Thị Th kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại ông Nguyễn Quang L1 và bà Trần Thị Th;

Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 311/2023/HS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 17 (mười bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2022.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015; buộc bị cáo phải trả lại số tiền 7.599.565.500 đồng đã chiếm đoạt của các bị hại, cụ thể:

  • Ông Kiều Văn Kh 3.099.565.500 đồng;
  • Bà Lưu Thị H3 500.000.000 đồng;
  • Ông Trịnh Bá S 500.000.000 đồng;
  • Ông Nguyễn Quang L1 1.500.000.000 đồng;
  • Bà Trần Thị Th 1.500.000.000 đồng.

2. Về án phí: Ông Nguyễn Quang L1, bà Trần Thị Th, mỗi người phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND Tp Hà Nội;
  • - VKSND Tp Hà Nội;
  • - Công an Tp Hà Nội;
  • - Cục THADS Tp Hà Nội;
  • - TTG - Công an Tp Hà Nội;
  • - Bị cáo (qua trại);
  • - Người bị hại (theo đ/c);
  • - Lưu HS, PHCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Tự Học

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 859/2023/HS-PT ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 859/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger