Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 858/2024/HS-PT

Ngày 18 - 9 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn

Các Thẩm phán: 1/ Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú

2/ Bà Trần Thị Thúy Hồng

Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Trần Đăng Ry, Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 18/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 238/2024/TLPT-HS ngày 12/3/2024. Do có kháng cáo của bị cáo Trương Thị H, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo kháng cáo: Trương Thị H, sinh năm 1990 tại Khánh Hòa; Nơi thường trú: 8 L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Nhân viên Công ty TNHH L1; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Bộ L và bà Nguyễn Thị Huỳnh Đ; Có chồng và 01 con sinh ngày 09/9/2021; Tiền án, tiền sự: Không (Bị cáo tại ngoại, có đơn xin xét xử vắng mặt vì đang sinh con tại bệnh viện).

Người bào chữa cho bị cáo H: Luật sư Đoàn Trọng N, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Trong vụ án này còn có bị cáo Võ Duy Đ1 kháng cáo, nhưng sau đó làm đơn xin rút kháng cáo, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Thông báo rút kháng cáo đối với bị cáo Đ1 theo quy định pháp luật.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/8/2020, Công ty trách nhiệm hữu hạn K2 (viết tắt là Công ty K2) mở 03 Tờ khai hải quan (viết tắt là Tờ khai) số [...]/B11, 303391295450/B11, 303391338740/B11 tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng S2 khu vực I để xuất khẩu lô hàng gồm 06 container. Hàng khai báo là thức ăn gia súc lên men làm từ cây bắp, mã HS 2309.90.19, thuế suất 0%. Tờ khai được hệ thống thông quan tự động phân luồng vàng (diện kiểm tra hồ sơ) và được Chi cục Hải quan giải quyết thông quan.

Ngày 18/8/2020, Đội kiểm soát chống buôn lậu khu vực miền N, Cục Điều tra chống buôn lậu - T1 có Quyết định số 49/QĐ-KPTVTĐV về việc khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính đối với 6 container nêu trên. Kết quả kiểm tra, hàng xuất khẩu chứa trong 6 container là vỏ lon nhôm phế liệu đã qua sử dụng được ép thành bánh, thuế suất 22% không phải thức ăn gia súc lên men là từ cây bắp, thuế suất 0% như khai báo.

Nhận thấy, Công ty K2 có hành vi khai báo sai hàng hóa xuất khẩu nhằm giảm số tiền thuế phải nộp nên ngày 13/11/2021, Cục điều tra chống buôn lậu - T1 đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự 08/QĐ - ĐTCBL về tội “Buôn lậu” theo quy định tại Điều 188 Bộ luật Hình sự và chuyển vụ án đến Cơ quan điều tra để điều tra theo quy định.

Kết quả điều tra, Cơ quan điều tra xác định: Từ ngày 08/6/2020 đến ngày 12/8/2020, Võ Duy Đ1 – Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn L1 (Công ty L1) có 03 lần đặt tàu, đặt container rỗng, thuê xe vận chuyển hàng hóa đến Cảng C; sử dụng pháp nhân Công ty K2 đăng ký mua chữ ký số hải quan; mở 07 tờ khai hải quan, làm thủ tục xuất khẩu 15 container, hàng khai báo là “Thức ăn gia súc lên men làm từ cây bắp”, thuế xuất 0%, cụ thể:

Lần 1: Ngày 08/6/2020, Đ1 chỉ đạo Trương Thị H là nhân viên Công ty L1 đặt 6 container rỗng, đặt tàu vận chuyển tại Công ty TNHH T2 (Công ty T2), hàng khai báo tại hãng tàu là thức ăn gia súc lên men làm từ cây bắp. Sau khi có lệnh lấy container rỗng Đ1 điện thoại cho ông Khổng An H1 là điều độ của Công ty TNHH T3 (viết tắt là Công ty T3) để thuê xe vận chuyển container hàng từ thành phố T, tỉnh Bình Dương đến cảng C Thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 17/6/2020, Đ1 chỉ đạo bà Bùi Thị Trân C và ông Nguyễn Đồng Việt C1 nhân viên Công ty L1 truyền tờ khai hải quan số [...], 303285318030 và 303284898620 cho Công ty K2. Hàng khai báo là thức ăn gia súc lên men làm từ cây bắp, đóng trong 06 container số HALU5698889, BEAU4212469, BMOU5415439, DFSU7719453, WBPU7074761 BMOU6069460, thuế xuất 0%, tổng trị giá khai báo: 19.800 USD, tổng trọng lượng: 149,76 tấn, người nhận hàng: Keojin Trading C2.,LTD, đc: RM 205, 542-5, S-D, K, S1, 134-031, K1. Hàng đã thông quan, xuất đi nước ngoài.

Lần 2: Ngày 19/6/2020, Đàm chỉ đạo Hiếu đặt 3 container rỗng, đặt tàu vận chuyển tại Công ty T2, hàng khai báo với hãng tàu là thức ăn gia súc lên men làm từ cây bắp. Sau khi có lệnh lấy container rỗng Đ1 điện thoại cho ông Khổng An H1 để thuê xe, vận chuyển hàng từ thành phố T, Bình Dương đến cảng C, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 24/6/2020, Đ1 chỉ đạo C, C1 truyền tờ khai hải quan số [...] cho Công ty K2, hàng hóa khai báo là thức ăn gia súc lên men làm từ cây bắp, được đóng trong 03 container số BMOU5410205, HJMU1597320, BMOU5412790, thuế xuất 0%, tổng trị giá khai báo: 10.080 USD, tổng trọng lượng: 74,16 tấn, người nhận hàng: Keojin Trading C2.,LTD, đc: RM 205, 542-5, S-D, K, S1, 134-031, K1. Hàng đã thông quan, xuất đi nước ngoài.

Lần 3: Ngày 06/08/2020, Đ1 chỉ đạo cho H đặt 6 container rỗng, đặt tàu vận chuyển tại Công ty cổ phần H2, hàng khai báo tại hãng tàu là thức ăn gia súc lên men làm từ cây bắp. Sau khi có lệnh lấy container rỗng Đ1 điện thoại cho ông Khổng An H1 là điều độ của Công ty T3 để thuê xe vận chuyển container lấy hàng từ thành phố T, Bình Dương và vận chuyển hàng đến cảng C Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 12/8/2020, Đ1 chỉ đạo C, C1 truyền 03 Tờ khai số [...]; 303391295450 và 303391338740 cho Công ty K2, hàng khai báo là thức ăn gia súc lên men làm từ cây bắp, đóng trong 06 container số FBLU0158719, CAIU4748081, BMOU5888581, STXU4539235, CAIU7239180, BSIU9741110, thuế xuất 0%, tổng trị giá khai báo: 10.080 USD, tổng trọng lượng: 74,16 tấn, người nhận hàng: Keojin Trading C2.,LTD, đc: RM 205, 542-5, S-D, K, S1, 134-031, K1.

Ngày 18/8/2020, Đội kiểm sát chống buôn lậu khu vực miền N, cục Điều tra chống buôn lậu - T1 kiểm tra, phát hiện hàng trong 6 Container thực tế là vỏ lon nhôm phế liệu đã qua sử dụng được ép thành bánh không phải thức ăn gia súc lên men là từ cây bắp như khai báo.

Kết luận định giá tài sản số 3813/KL-HĐĐGTS ngày 14/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận lô hàng nêu trên có giá trị 3.605.879.000đ.

Kết quả xác minh tại Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố H: Công ty K2 được Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0316319272 ngày 10/6/2020, địa chỉ trụ sở doanh nghiệp: A L, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh do Trần Anh Đ2, sinh năm: 1977, HKTT: KP H, TT K, huyện K, tỉnh Kiên Giang làm giám đốc; Ngành nghề kinh doanh: Cho thuê máy móc, thiết bị, buôn bán gạo, lúa mì, hạt ngũ cốc khác, bột mì, buôn bán nông, lâm sản nguyên liệu....

Kết quả xác minh tại Công an thị trấn K: khu phố H, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang không có đương sự Trần Anh Đ2, sinh năm: 1977, CMND: [...] cấp ngày 14/01/2009.

Kết quả xác minh tại Công an xã T, huyện H: A L, ấp T, xã T, huyện H không có Công ty K2 hoạt động, không treo bảng hiệu Công ty.

Kết quả xác minh tại Chi cục thuế khu vực Quận A- H: Công ty K2 không kinh doanh tại địa chỉ đăng ký kinh doanh, chưa nộp tờ khai lệ phí môn bài, không kê khai, báo cáo thuế.

Kết quả xác minh tại Công ty cổ phần C4 - Chi nhánh Thành phố H: ngày 11/6/2020, Công ty K2 đăng ký sử dụng chữ ký số của Công ty P với gói cước 1 năm, địa chỉ mail người liên hệ: accountant@gmail.comngười liên hệ: Ms Chi, số điện thoại 0985.023.xxx.

Kết quả xác minh tại Công ty TNHH H3 (viết tắt là Công ty H3 - A):

Ngày 08/6/2020, Công ty T2 gửi email đặt trước chuyến tàu và đặt container đóng hàng hóa đến Công ty H3 - A. Công ty H3 đã phát hành lệnh cấp container rỗng số: HASLS21200600371 cấp 06 container loại 40HC cho Công ty T2 đóng hàng, thông tin hàng hóa xuất khẩu đóng trong 06 container là thức ăn gia súc (M1). Sau khi tàu chạy Công ty Topaz Marine vào hệ thống Booking của Công ty H3 - A để sửa chi tiết hàng thể hiện hàng hóa trong các container là UBC Scr (nhôm phế liệu). Ngày 18/6/2020, Công ty H3 - A phát hành vận đơn số: HASLS21200600371, tên hàng hóa là UBS Scr. Ngày 18/6/2020, Công ty T2 thanh toán tiền dịch vụ cho Công ty H3, Công ty H3 - A xuất hóa đơn Giá trị gia tăng số 0010925 và 0010924.

Ngày 23/6/2020, Công ty T2 đặt tàu và đặt container đóng hàng hóa đến Công ty H3 - A. Công ty H3 - A phát hành lệnh cấp container rỗng số: HASLS21200501252 để cấp 03 container loại 40HC cho Công ty L2 đi đóng hàng, thông tin hàng xuất khẩu đóng trong 03 container là thức ăn gia súc. Sau khi tàu chạy Công ty Topaz Marine vào hệ thống Booking của Công ty H3 - A sửa chi tiết hàng thể hiện hàng hóa trong các container là UBC Scr (nhôm phế liệu). Ngày 25/6/2020, Công ty H3 – A phát hành vận đơn số: HASLS21200501252, tên hàng hóa là UBS Scr. Ngày 26/6/2020, Công ty T2 thanh toán tiền dịch vụ cho Công ty H3 và Công ty H3 - A xuất hóa đơn Giá trị gia tăng số 0012014 và 0012015.

Kết quả xác minh tại Công ty T2:

- Đối với đơn đặt trước số HASL21200600371 ngày 08/6/2020:

+ Ngày 08/6/2020, Công ty T2 đặt container rỗng và chuyến tàu của hãng tàu Heung – A theo yêu cầu của Công ty L1, số lượng 06 container loại 40HC, hàng hóa là MEXED FEED FOR BOVINE (thức ăn gia súc). Công ty T2 đã phát hành booking số FBC20060033 và gửi cho Công ty L1. Cùng ngày, Công ty T2 nhận được Booking số HASL21200600371 từ hãng tàu Heung - A và đã gửi Booking này cho Công ty L1 để đi nhận container rỗng đóng hàng.

+ Ngày 18/6/2020, Công ty L1 gửi mail đề nghị Công ty T2 sửa nội dung tên hàng trên vận đơn từ tên hàng là MEXED FEED FOR BOVINE thành tên hàng UBC SCR (nhôm phế liệu). Công ty T2 lên trang Website của Công ty H3 - A để sửa nội dung trên hàng trên Bill theo yêu cầu của Công ty L1.

- Đối với đơn đặt trước số HASL21200501252 ngày 23/6/2020:

+ Ngày 19/6/2020, Công ty TNHH T2 đặt container rỗng và chuyến tàu của hãng tàu Heung - A theo yêu cầu của Công ty L1, số lượng 03 Container loại 40HC, hàng hóa là MEXED FEED FOR BOVINE (thức ăn gia súc). Công ty T2 đã phát hành booking số FBC20060099 và gửi cho Công ty TNHH L1. Ngày 23/6/2020, Công ty T2 nhận được Booking số HASL21200501252 từ hãng tàu Heung - A và gửi Booking này cho Công ty L1 để nhận container rỗng đóng hàng.

+ Ngày 26/6/2020, Công ty L1 gửi mail cho Công ty T2 đề nghị sửa nội dung tên hàng trên Bill từ tên hàng là MEXED FEED FOR BOVINE thành tên hàng UBC SCR (nhôm phế liệu), Công ty T2 lên trang Website của Công ty H3 - A để sửa nội dung trên hàng trên Bill theo yêu cầu của Công ty L1.

Kết quả xác minh tại Công ty cổ phần H2:

- Ngày 06/08/2020, Công ty cổ phần H2 nhận yêu cầu đặt tàu từ Công ty Land Ocean với số lượng 06 container loại 40HC, hàng hóa là MEXED FEED FOR BOVINE (thức ăn gia súc). Công ty cổ phần H2 đã phát hành booking số MACSGN20080074 gửi cho công ty L1 nhận container rỗng đóng hàng.

- Ngày 10/08/2020, Công ty L1 gửi Chi tiết vận đơn và B xác nhận khối lượng toàn bộ container vận chuyển quốc tế. Ngày 13/8/2020, Công ty cổ phần H2 phát hành vận đơn số POBUSGN200800057 cho Công ty L1, với số lượng 06 Container loại 40HC, hàng hóa là MEXED FEED FOR BOVINE. Đến thời điểm hiện tại, Công ty L1 chưa thanh toán chi phí dịch vụ cho Công ty cổ phần H2.

Kết quả xác minh tại Chi cục Hải quan C5 KV1: từ ngày 10/6/2020 đến ngày 12/8/2020, Công ty K2 đã truyền 07 tờ khai (15 container) liên quan đến hoạt động xuất khẩu, cụ thể:

- Tờ khai số: [...] mở ngày 17/6/2020, hàng hóa được đóng trong 01 container số HALU5698889 khai báo là thức ăn gia súc lên men làm từ cây bắp, trọng lượng 24,96 tấn, tờ khai được hệ thống tự động phân luồng đỏ (kiểm tra thực tế hàng hóa), việc kiểm hóa được tiến hành bởi công chức Trần Minh Đ3, tỷ lệ kiểm tra 10%, kết luận kiểm tra hàng xuất khẩu được kiểm tra tỷ lệ phù hợp khai báo của người khai hải quan, không phát hiện vi phạm.

- Tờ khai số: [...] và 303284898620, mở ngày 17/6/2020, hàng hóa được đóng trong 05 container khai báo là thức ăn gia súc lên men làm từ cây bắp, trọng lượng 124,8 tấn, tờ khai được hệ thống tự động phân luồng vàng (kiểm tra trên hồ sơ) và đã thông quan.

- Tờ khai số: [...] mở ngày 24/6/2020, hàng hóa được đóng trong 03 container khai báo là thức ăn gia súc lên men làm từ cây bắp, trọng lượng 74,16 tấn, tờ khai được hệ thống tự động phân luồng vàng, đã thông quan.

- Tờ khai số: [...]; 303391295450 và 303391338740 mở ngày 12/8/2020, hàng hóa được đóng trong 06 container khai báo là thức ăn gia súc lên men làm từ cây bắp, trọng lượng 149,76 tấn, tờ khai được hệ thống tự động phân luồng vàng và đã thông quan.

Kết quả xác minh tại Tổng công ty T4: 15 Container thuộc 7 tờ khai hải quan trên có 09 con't hàng được vận chuyển vào Cảng C trong các ngày 14, 15, 22 và 23 tháng 6/2020; và 06 con’t hàng được vận chuyển vào Cảng C trong ngày 08 và ngày 09 tháng 8/2020;.

Kết quả xác minh tại Công ty CP Đ4 – D Mỹ T: 02 Booking HASLS21200600371 và HASLS21200501252 của hãng tàu Heung A có 09 container, tân cảng Mỹ T cấp 08 container rỗng cho các xe của Công ty TNHH T3 (riêng 01 Container số BMOU5410205 thuộc Booking số HASLS21200501252 được Công ty TNHH T3 lấy tại bãi container V).

Kết quả xác minh Tại trạm cân 68 - Công ty TNHH X: trong thời gian các ngày 13, 14, 15/6/2020; ngày 22, 23/6/2020 và 09/8/2020, các xe ô tô biển kiểm soát 51D- 313.21; 51D- 310.48 và 51C -468.39 có tiến hành cân xe không và cân xe có hàng tại Trạm cân 68. Đối với xe ô tô biển kiểm soát 51D-338.09 qua trích xuất dữ liệu của trạm cân chỉ xác định được xe này có tiến hành cân xe tại trạm cân vào ngày 11/5/2020. Trạm cân 68 chỉ thực hiện việc cân theo yêu cầu của khách hàng, không biết trên xe chở hàng hóa gì do khách hàng không yêu cầu điền vào phiếu cân. Do thời gian đã lâu nên Trạm cân không lưu phiếu cân. Trích xuất hệ thống quản lý mạng của trạm cân hiện chỉ còn lưu giữ thông tin cân xe của 12 chuyến, các chuyến còn lại do quá trình thao tác máy tính không lưu lại nên hiện không có thông tin.

Ngày 14/02/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T5 có văn bản số 1067/CSKT-Đ9 gửi Tập đoàn V1 – Chi nhánh T đề nghị cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến số di động 0986978576 nhưng đến nay vẫn chưa nhận được kết quả.

Tại Cơ quan Điều tra, bị can và người liên quan khai nhận như sau:

- Bị can Võ Duy Đ1 khai: Đàm là người khai báo toàn bộ hàng hóa xuất khẩu của Công ty K2; chủ hàng là ông Nguyễn Đình N1 và bà Lê Thị N2. Đầu tháng 6/2020, Đ1 gặp Nguyễn Đình N1 tại Cảng C. N1 nhờ Đ1 làm dịch vụ hải quan hàng xuất khẩu là nhôm phế liệu ép cục xuất qua Hàn Quốc, với chi phí 80.000.000 đồng/Container; N1 giao Giấy phép kinh doanh bản chính của Công ty K2 cho Đ1 để Đ1 đăng ký mua chữ ký số hải quan dùng khai báo hàng hóa xuất khẩu của Công ty K2 thay N1; từ ngày 08/6/2020 đến ngày 12/8/2020, Đàm mở 07 tờ khai hải quan của Công ty K2, làm thủ tục xuất khẩu trái phép 15 container hàng là vỏ lon nhôm phế liệu ép cục, thuế suất 22%, nhưng khai báo gian dối tên hàng hóa xuất khẩu là Thức ăn gia súc lên men làm từ cây bắp, thuế xuất 0%. Trong đó, 9 container của 4 tờ khai hải quan đầu đã xuất khẩu trót lọt.

Theo thoả thuận, ông N1 bà N2 thuê Đ1 làm “dịch vụ xuất khẩu trọn gói”, Đ1 là người có trách nhiệm nộp các loại thuế, phí. Đàm không cho N1, N2 biết việc Đàm khai báo gian dối hàng hóa xuất khẩu. Mục đích Đ1 khai sai tên hàng để giảm thuế xuất khẩu phải nộp. N1 đã thanh toán cho Đ1 720.000.000 đồng tiền mặt. Số tiền này Đàm chi cho Trần Phương N3 – Đội trưởng đội hàng hóa thủ tục xuất khẩu Chi cục HQ cửa khẩu S2 KV1 để thông quan hàng hoá. Việc giao nhận bằng tiền mặt, không có tài liệu, không có người chứng kiến, trước khi truyền tờ khai Đàm gọi điện thoại qua ứng dụng Viber cho N3 hỏi tình hình, khi có sự đồng ý của N3, Đ1 mới truyền tờ khai. Khi làm thủ tục xuất khẩu hàng, Đ1 cho Trương Thị H số điện thoại của bà N2 để liên hệ lấy thông tin hàng gồm tên hàng, trọng lượng hàng, số Container để làm House bill của Công ty L1 cho N2 (tên hàng hóa trên House bill là nhôm phế liệu ép cục) để bà N2 giao dịch bán hàng cho đối tác Hàn Quốc. Đàm không nhớ tên Công ty của bà N2 và tên Công ty đối tác mua hàng của bà N2 tại Hàn Quốc. Đ1 cũng thừa nhận là người chỉ đạo Hiếu khai báo gian dối tên hàng hóa tại hãng tàu và yêu cầu H thay đổi tên hàng hóa khi tàu khởi hành. Sau khi có lệnh lấy container, Đ1 gửi cho Khổng An H1 để lấy Container và cho H1 số điện thoại của ông N1 để chỉ nơi nhận hàng, đóng hàng và vận chuyển đến Cảng C.

Liên quan đến 06 container nhôm phế liệu phát hiện, bị tạm giữ, N1 yêu cầu Đàm bồi thường số hàng trên. Theo đó, N3 là người nhận thông quan lô hàng trên, đã nhiều lần chi trả bằng tiền mặt cho Đ1 số tiền 2.500.000.000 đồng. Số tiền này Đ1 đã thanh toán chuyển khoản từ tài khoản Ngân hàng Q của Đ1 qua tài khoản của Nguyễn Đình N1 2 lần, mỗi lần 300.000.0000 đồng, đưa tiền mặt 1.100.000.000 đồng. Số tiền còn lại 800.000.000 đồng, Đ1 sử dụng chi trả chi phí vận chuyển mặt hàng Nhôm phế liệu từ bãi phế liệu của bà N2 tại Bình Dương ra miền B đối với các lô hàng khác của ông N1, bà N2.

- Bị can Trương Thị H, nhân viên Công ty L1, khai: H là người booking tàu, đặt 6 container rỗng, khai báo hãng tàu hàng hóa vận chuyển là thức ăn gia súc lên men làm từ cây bắp. Khi hãng tàu cấp booking số MACSGN20080074, H gửi thông báo đặt chỗ cho bà Lê Thị N2 là chủ hàng và Đ1. Sau khi đóng hàng vào container, bà N2 gửi cho H số container và trọng lượng hàng, tên hàng thực tế. H gửi cho hãng tàu để ra Master bill (vận đơn tàu) xuất cho Công ty L1. Sau khi nhận Marter bill, H làm House bill (vận đơn chi tiết) do Công ty L1 phát hành, chủ hàng là Công ty TNHH T6, người nhận hàng là khách hàng của bà N2 tại Hàn Quốc (Công ty do bà N2 cung cấp) do đã lâu nên H không nhớ Công ty nào. Đ1 là người đưa số điện thoại của bà N2 cho H liên hệ để lấy thông tin làm House bill. Việc trao đổi và gửi các House bill với bà N2 thông qua ứng dụng Zalo. Sau khi xảy ra vi phạm trên Đàm đã yêu cầu H đưa điện thoại để Đàm tự xóa các tin nhắn trao đổi giữa H với bà N2, yêu cầu H không liên hệ với bà N2 nữa. Các chứng từ House bill H soạn thảo lưu trong máy tính của Công ty L1 Đàm mang đi nơi khác. Theo chỉ đạo của Đ1, khi liên hệ hãng tàu, H yêu cầu hãng tàu cho sửa bill khi tàu rời khỏi cảng thì mới Booking tàu. Đối với các Booking trên là do Đàm chỉ đạo Hiếu đặt tàu xuất hàng đi Hàn Quốc, tên hàng hóa, số lượng do Đ1 cung cấp thông tin cho H để đặt hãng tàu. Tất cả hàng hóa khai báo hãng tàu là Mexed feed for bovine (thức ăn gia súc), khi tàu chạy 1-2 ngày, Đ1 yêu cầu H thông báo hãng tàu đổi tên hàng hóa từ Mexed feed for bovine thành M1 (nhôm phê liệu), H biết việc làm của mình là vi phạm nhưng vì là nhân viên nên H phải thực hiện theo chỉ đạo của cấp trên. Việc thanh toán cho hãng tàu do Nguyễn Thị Lệ C3 - Kế toán, số điện thoại 0985.023.xxx thực hiện.

- Bà Nguyễn Thị Lệ C3, nhân viên Công ty L1, khai: Liên quan đến việc mua chữ ký số Hải quan: Chi là người liên hệ với Công ty P để làm thủ tục mua chữ ký số Hải quan cho Công ty K2 theo yêu cầu của Võ Duy Đ1. Khi Công ty P cấp chữ ký số Hải quan, C3 gửi email của Công ty P cho Đ1 để liên hệ lấy. Việc Đ1 giao ai đi lấy chữ ký số C3 không biết. C3 không biết Công ty K2 do ai thành lập, giám đốc là ai. Sau khi đăng ký mua chữ ký số, C3 đã trả lại toàn bộ giấy phép cho Võ Duy Đ1. C3 là người thanh toán phí vận chuyển cho Khổng An H1 và hãng tàu theo chỉ đạo của Võ Duy Đ1

- Ông Khổng An H1, điều độ Công ty T3 khai: Công ty T3 là đơn vị vận chuyển thuê 15 container vỏ lon nhôm ép cục cho Đ1: có 01 container được lấy tại B, Bình Dương (H1 không nhớ rõ địa chỉ); số còn lại lấy từ T, tỉnh Bình Dương. Tất cả các lần vận chuyển hàng đều đến Cảng C, Thành phố Hồ Chí Minh. Cước vận chuyển 2.600.000 đồng /Container do Nguyễn Thị Lệ C3 nhân viên của Đ1 thanh toán bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản cá nhân của H1. H1 chỉ là người vận chuyển, các thủ tục xuất khẩu do Võ Duy Đ1 thực hiện.

- Bà Bùi Thị Chân T nhân viên Công ty L1, khai: T là người bấm truyền tờ khai để lấy phân luồng tờ khai từ máy tính của Nguyễn Đồng Việt C1 theo chỉ đạo của Võ Duy Đ1 do Đ1 không có mặt ở Công ty. Khi bấm phân luồng, tờ khai đã được nhập dữ liệu sẵn. Sau khi có tờ khai phân luồng thì T chuyển cho Đ1 và Trương Thị H để nhập eport (nâng hạ Container) tại Cảng C. Trong quá trình làm việc, T không nhận được hình ảnh hay mẫu mã về sản phẩm tên là thức ăn gia súc cũng như là lon nhôm ép.

- Ông Nguyễn Đồng Việt C1, nhân viên Công ty L1 khai: Từ ngày 17/6/2020 đến ngày 12/8/2020, C1 làm các chứng từ invoice, packing list, nhập liệu 7 tờ khai hải quan xuất khẩu của Công ty K2 (trong đó có 3 tờ khai vi phạm), toàn bộ hàng hóa khai báo là thức ăn gia súc lên men làm từ cây bắp. Bùi Thị Trân C là người truyền tờ khai hải quan. Các thông tin về tên hàng, trọng lượng hàng hoá, đơn giá... để nhập dữ liệu tờ khai đều do Võ Duy Đ1 cung cấp; Đ1 đưa cho C1 chữ ký số hải quan của Công ty K2 để nhập liệu và truyền tờ khai hải quan. Khi nói chuyện, C1 có nghe Đ1 nói hàng là vỏ lon nhôm phê liệu. Tuy nhiên, C1 không nhận bất cứ thông tin, hình ảnh gì thể hiện hàng là vỏ lon nhôm phế liệu. C1 không biết nguồn gốc hàng hoá lô hàng Công ty Nghĩa phát ở đâu. Không biết ai là người làm thủ tục hải quan tại Cảng C.

- Ông Nguyễn Đình N1, bà Lê Thị N2 khai:

+ Bà N2 là chủ cơ sở thu mua nhôm phế liệu tại địa chỉ số D đường B, ấp B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Ngoan bán phế liệu là vỏ lon nhôm đã ép thành bánh cho nhiều khách hàng, N2 không biết nhân thân, lai lịch và không lưu số điện thoại người mua hàng. Việc bán hàng cho khách được tiến hành theo quy trình: Khách hàng có nhu cầu mua hàng của N2 sẽ chủ động gọi điện thoại trước để thống nhất giá cả, sau đó khách hàng sẽ gửi cho N2 số điện thoại của các lái xe container lấy hàng để N2 hướng dẫn cho họ cân xe không (trạm cân 68 trên đường M - T) và di chuyển vào kho lấy hàng. Sau đó, N2 theo xe quay lại trạm cân để cân xe tính trọng lượng hàng và tính tiền trực tiếp với khách hàng, N2 không lập sổ sách hay viết hóa đơn gì cho khách hàng cả. Giá bán hàng thời điểm từ tháng 5/2020 đến tháng 8/2020 tại kho của N2 là khoảng 22.000 VND/kg hàng trong Container là nhôm phế liệu. Mọi việc liên quan đến thủ tục xuất khẩu Đàm làm việc với N1.

+ Ông N1 khai, N1 thuê Đ1 làm dịch vụ xuất khẩu với giá 80.000.000 đồng /1container. Việc Đ1 thực hiện xuất khẩu như thế nào N1 không biết. N1 yêu cầu Đàm đền cho N1 số hàng đang bị giữ.

- Ông Trần Minh Đ3 - Công chức Chi cục Hải quan cửa khẩu S2 khu vực I, khai: Ngày 17/6/2020, Công ty K2 truyền tờ khai hải quan số [...], hàng hóa khai báo là “thức ăn gia súc lên men làm từ cây bắp” lên hệ thống VNACCS, tờ khai được phân luồng đỏ, sau khi công chức đăng ký là ông Trần Quang V thực hiện kiểm tra chi tiết hồ sơ theo quy định. Lãnh đạo Đội (ông Trần Phương N3 – Đội trưởng) phân công trên hệ thống VNACCS cho Đ3 thực hiện việc kiểm tra thực tế hàng hóa. Tỷ lệ kiểm tra do Lãnh đạo Chi cục trực tiếp chỉ thị trên hệ thống đối với tờ khai trên là 10%.

Việc kiểm tra tiến hành trong cảng C, đại diện doanh nghiệp đã mở container số hiệu: HALU5698889 để phục vụ công tác kiểm tra. Đ3 đã kiểm tra theo tỷ lệ 10% đối với lô hàng theo phê duyệt của Lãnh đạo Chi cục, việc kiểm tra được thực hiện đối với lớp hàng ngoài cùng và một số bao thuộc lớp hàng thứ 2 ngoài đầu container. Mô tả hàng hóa khi kiểm tra phù hợp với khai báo, cụ thể như sau: Hàng hóa được đóng trong các bao tải, màu nâu, được đóng lên đến trần container, bên trong có lớp bao nilon, mỗi bao chứa khoảng 50kg. Đại diện Công ty đã mở 48 bao tải (tương đương tỷ lệ 10% hàng hóa trong C), trong bao có chứa hàng hóa là thức ăn gia súc lên men làm từ cây bắp (thân và lá, bắp, hạt bắp, bã khóm, cỏ vôi, bã mì) dành cho bò sữa, có mùi chua của thức ăn gia súc lên men. Trong quá trình kiểm tra thực tế hàng hóa, chỉ có Đ3 và đại diện doanh nghiệp chứng kiến quá trình kiểm tra thực tế hàng hóa. Kết thúc việc kiểm tra, Đ3 đã nhập kết quả kiểm tra thực tế vào hệ thống và thực hiện thông quan theo đúng quy định.

Do sự việc đã lâu, Đ3 không nhớ ai là người liên hệ Đ3 làm thủ tục kiểm hóa đối với tờ khai trên. Ngoài ra, Đ3 trình bày: trước khi thực hiện việc kiểm hóa đối với lô hàng trên đại diện doanh nghiệp không cung cấp giấy tờ tùy thân và giấy giới thiệu của doanh nghiệp. Đồng thời, trong quy định cũng không có yêu cầu việc cung cấp giấy tờ tùy thân và giấy giới thiệu của doanh nghiệp.

Ngày 07/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T5 ra Quyết định trưng cầu giám định số 801-04/QĐ-TCGĐ, trưng cầu Phòng K3 Công an T5 phục hồi, trích xuất, thu giữ dữ liệu điện tử toàn bộ tin nhắn trong ứng dụng Zalo, ứng dụng Viber, ứng dụng Whatsapp, ứng dụng telegram; toàn bộ file ảnh, file ghi hình trong thẻ nhớ, bộ nhớ máy có liên quan đến việc buôn lậu hàng hóa nhưng đến nay vẫn chưa nhận được kết quả phản hồi.

Kết quả kiểm tra dữ liệu điện thoại di dộng Iphone, số Imei 356565104968070: Trong phần mền ứng dụng Zalo ghi nhận các nội dung tin nhắn với người dùng tên “Lohieu”, “LoChuong”, “LoChi”, “LoTran” liên quan đến vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trích xuất, Võ Duy Đ1 đã ký xác nhận toàn bộ nội dung tin nhắn Zalo.

Kết luận giám định số 2230/KL-KTHS, Ngày 12/6/2023, Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh (C09B) - Bộ C6 có kết luận:

  • - Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hội thoại trong 02 file ghi âm mẫu cần giám định.
  • - Không đủ cơ sở giám định tiếng nói.
  • - Nội dung hội thoại trong 02 file ghi âm cần giám định đã được chuyển thành văn bản (Bản dịch nội dung gồm 7 trang giấy A4).

Ngày 04/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T5 có Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 801-33/QĐ, trưng cầu giám định viên thuộc Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh (C09B) - Bộ Có tiếp tục giám định tiếng nói của Trần Phương N3 được ghi âm trong điện thoại di động Iphone, số Imei: 356565104968070 của Võ Duy Đ1 chứa 02 file ghi âm tên “Bản ghi âm mới 4”, “Bản ghi mới 5”.

Kết luận giám định số 4495/KL-KTHS, ngày 09/10/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh (C7) - Bộ C6 xác định không đủ cơ sở giám định tiếng nói của Trần Phương N3.

Tại bản Cáo trạng số 611/CT-VKS-P3 ngày 15/11/2023, Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, có nội dung: Truy tố các bị can Võ Duy Đ1, Trương Thị H (có lý lịch nêu trên) về tội “Buôn lậu” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã tuyên xử:

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 188, điểm n điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Trương Thị H 07 năm tù về tội “Buôn lậu”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra còn xử phạt Võ Duy Đ1 12 năm tù về tội “Buôn lậu”.

Bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan về tang vật, án phí, phạt tiền và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm,

Ngày 13/02/2024, bị cáo Võ Duy Đ1 làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 31/5/2024, bị cáo Võ Duy Đ1 có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo. Ngày 11/6/2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Thông báo số 26/2024/TB-TA về việc rút kháng cáo của bị cáo Võ Duy Đ1.

Bị cáo Trương Thị H làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Mức án sơ thẩm quá nặng, bản thân bị cáo nuôi con nhỏ và đang mang thai, xin được xem xét giảm nhẹ mức án.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo H có đơn xin xử vắng mặt vì đang nuôi con nhỏ và hiện có thai đang đi sinh con ở bệnh viện, xin chiếu cố giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo H xin vắng và gửi bài bào chữa xin xem xét giảm án cho bị cáo, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Đối với bị cáo Võ Duy Đ1 đã có đơn rút kháng cáo, đề nghị đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Võ Duy Đ1. Xét kháng cáo của bị cáo Trương Thị H, bị cáo H là người làm công, giúp việc cho bị cáo Đ1 buôn lậu với giá trị hàng phạm pháp rất lớn. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo H 07 năm tù về tội “Buôn lậu” theo điểm a khoản 4 Điều 188 Bộ luật Hình sự, là có căn cứ. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, nghe bị cáo trình bày, nghe đại diện Viện kiểm sát và luật sư phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Trương Thị H làm trong hạn luật định, nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.

[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo:

[2.1] Xét lời khai nhận của bị cáo Võ Duy Đ1, bị cáo Trương Thị H với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định:

Bị cáo Võ Duy Đ1, Giám đốc Công ty L1, đã có hành vi sử dụng pháp nhân Công ty K2, làm thủ tục mua chữ ký số Hải quan và chỉ đạo cho nhân viên Công ty L1 mở 03 tờ khai hải quan số [...], số [...], số [...], cùng ngày 12/8/2020 để làm thủ tục xuất khẩu trái phép 06 container, vỏ lon nhôm phế liệu ép cục, thuế suất 22% nhưng khai báo gian dối tên hàng là Thức ăn gia súc lên men làm từ cây bắp, thuế suất 0%. Trước đó, bị cáo Đ1 chỉ đạo cho nhân viên Trương Thị H liên hệ đặt 06 container rỗng, sau đó liên hệ với chủ hàng phế liệu đóng vào 06 container là vỏ lon nhôm phế liệu ép cục. Tổng giá trị hàng hóa vi phạm qua định giá là 3.605.879.000 đồng.

Bị cáo Trương Thị H có hành vi làm thủ tục xuất khẩu theo chỉ đạo của bị cáo Võ Duy Đ1. Biết hàng xuất khẩu không đúng với khai báo hải quan nhưng H vẫn thực hiện theo chỉ đạo của Đ1, khai báo hãng tàu hàng hóa là Mexed feed for bovine (thức ăn gia súc) để hợp thức hóa hồ sơ hải quan.

[2.2] Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đ1 12 năm tù về tội “Buôn lậu”, bị cáo H 7 năm tù về tội “Buôn lậu” theo điểm a khoản 4 Điều 188 Bộ luật Hình sự là phù hợp.

[2.3] Bị cáo Đ1 làm đơn kháng cáo, nhưng sau đó rút kháng cáo. Ngày 11/6/2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Thông báo số 26/2024/TB-TA về việc rút kháng cáo của bị cáo Võ Duy Đ1 theo quy định của pháp luật. Do đó, căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Võ Duy Đ1, phần tội danh và hình phạt của Võ Duy Đ1 theo bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật.

[2.4] Bị cáo H kháng cáo, xét thấy: Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo cung cấp giấy xét nghiệm và Phiếu siêu âm có thai dự đoán sinh con vào tháng 9/2024 và hiện nay bị cáo đang nhập viện để sinh con. Ngoài ra, bị cáo cung cấp đơn xin xác nhận nhân thân có chứng thực của Ủy ban nhân dân phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa, nội dung bà nội bị cáo bà Nguyễn Thị M là người có công cách mạng được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất. Đây là những tình tiết mới nên có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo, áp dụng thêm khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo H.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Võ Duy Đ1, Trương Thị H không phải chịu.

[4] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.

Bởi các lẽ trên;

Căn cứ Điều 348, Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Võ Duy Đ1;

Phần tội danh và hình phạt của Võ Duy Đ1 theo bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trương Thị H. Sửa một phần bản án sơ thẩm.

1/ Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 188, điểm n điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 54 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trương Thị H 06 (sáu) năm tù về tội “Buôn lậu”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

2/ Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.

3/ Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Võ Duy Đ1, Trương Thị H không phải chịu.

4/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao.
  • - VKSNDCC tại Tp. HCM.
  • - VKSND Tp.HCM.
  • - TAND Tp.HCM.
  • - Công an Tp. HCM.
  • - Trại TG Công an Tp. HCM.
  • - Cục THADS Tp.HCM.
  • - Những người tham gia tố tụng.
  • - Sở Tư pháp Tp.HCM.
  • - Lưu VP; HS vụ án, TK: TPQ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÊ HOÀNG TẤN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 858/2024/HS-PT ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (tội buôn lậu)

  • Số bản án: 858/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Buôn lậu)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger