Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 857/2023/DS-PT

Ngày: 21/8/2023

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Ngọc Hương

Bà Nguyễn Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Anh – Thư ký Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nghĩa - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15 và 21 tháng 8 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 262/2023/TLPT-DS ngày 21 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 92/2023/DS-ST ngày 13 tháng 4 năm 2023 của Tòa án Nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2255/2023/QĐ-PT ngày 29 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 3155/2023/QĐ-PT ngày 26 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1984. (vắng mặt)

    Địa chỉ: F L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Mai Xuân M, sinh năm 1978. (Có mặt)

    Địa chỉ: A khu phố F, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền ngày 10/10/2022).

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1981. (Vắng mặt)

    Địa chỉ: 1 tổ F, khu phố Ô, phường L, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Phan Thanh M1. (Có mặt)

    Địa chỉ: I N, B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông XIONG JUN, sinh năm 1975. Quốc tịch: Trung Quốc. (Xin vắng mặt)

    Hộ chiếu số: EC6196802 do Trung Quốc cấp ngày 13/4/2018

    Địa chỉ cư trú tại Trung Quốc: Số A Tòa A, số G đường K, khu V, thành phố T, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc.

    Địa chỉ cư trú tại Việt Nam: A đường số C, khu phố B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm, lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa cùng các chứng cứ thể hiện như sau:

* Nguyên đơn ông Nguyễn Văn D do ông Mai Xuân M đại diện theo ủy quyền trình bày:

Thông qua mối quan hệ làm ăn quen biết, ông Nguyễn Văn D có cho vợ chồng bà Nguyễn Thị T và ông Xiong J vay tiền nhiều lần. Ngày 22/7/2020 ông D lập bản chốt nợ và bà T ký xác nhận còn nợ ông D 9 tỷ đồng. Sau khi hai bên cấn trừ bót 5 tỷ đồng (gán căn nhà ở Quận G) thì bà T còn nợ ông D 4 tỷ đồng. Bà T có hứa bán tiếp căn nhà sẽ trả hết tiền cho ông D, nếu chưa bán được nhà thì sẽ trả dần mỗi tháng từ 50 triệu đến 100 triệu nhưng đến nay bà T vẫn không thực hiện. Ông D đã nhiều lần liên hệ đòi lại số tiền trên nhưng bà T và ông Xiong J vẫn hẹn kéo dài không thanh toán. Ông D đã gửi thông báo đòi nợ vào ngày 19/5/2021 và cho bà T thời hạn 07 ngày để thanh toán nợ nhưng phía bà T vẫn im lặng không hồi đáp. Đây là số tiền vay nợ lớn, bà T vay của ông D nhiều lần, thời gian vay kéo dài, mục đích làm ăn tạo thu nhập cho gia đình. Trong những lần thỏa thuận vay tiền, việc cho vay, giao nhận tiền giữa ông D và bà T thì chồng của bà T là ông Xiong J đều có mặt chứng kiến và đồng ý với bà T, việc ông Xiong J không ký vào giấy nhận nợ vì ông Xiong J thoái thác ông ta là người Trung Quốc nên không tiện ký giấy tờ gì. Bà T và Xiong J vay nợ của ông D có nhân chứng tận mắt chứng kiến việc thỏa thuận vay. Đại diện ông D, ông M có yêu cầu như sau: Yêu cầu bà T và ông Xiong J hoàn trả số tiền gốc là 4.000.000.000đ (bốn tỷ đồng) và trả tiền lãi với lãi suất 10%/năm tính từ ngày 03/11/2021 cho đến ngày tòa án xét xử sơ thẩm. Yêu cầu bà T và ông Xiong J trả ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

+ Yêu cầu bà T và ông Xiong J hoàn trả 4.000.000.000 đồng tiền vốn còn nợ lại, tiền lãi tính từ ngày 03/11/2021 đến ngày 06/4/2023 là 01 năm 04 tháng 02 ngày, với lãi suất 10%/năm, số tiền lãi được tính như sau: 4.000.000.000 đồng x 10%/năm x (01 năm + 04 tháng + 02 ngày) = 535.525.114 đồng.

Như vậy, tổng số tiền ông D yêu cầu bà T và ông Xiong J phải trả là: 4.000.000.000 đồng + 535.525.114 đồng = 4.535.525.114 đồng (bốn tỷ, năm trăm ba mươi lăm triệu, năm trăm hai mươi lăm ngàn, một trăm mười bốn đồng).

* Bị đơn bà Nguyễn Thị T có lời trình bày tại bản tự khai (BL 102 - 106) và biên bản hòa giải ngày 09/01/2023 (BL 141) như sau:

Bà vẫn giữ nguyên ý kiến như bản tự khai ngày 18/11/2022 vì bà đã trả nợ cả vốn lẫn lãi cho ông Nguyễn Văn D xong rồi. Ông Xiong J không hề liên quan đến việc vay nợ giữa bà và ông D. Ông Xiong J không có thỏa thuận mượn nợ và không có ký bất cứ giấy tờ vay mượn nợ nào đối với ông D. Bà thừa nhận chữ viết và ký tên với nội dung xác nhận “còn nợ lại 4.000.000.000 (bốn tỷ)” trên giấy chốt nợ ngày 22/7/2020 là chữ viết và chữ ký của bà, nhưng số tiền này là tiền lãi của nhiều lần bà vay tiền ông D, số tiền lãi này bà cũng đã trả xong cho ông D. Bà xác định hiện nay bà không còn nợ ông D số tiền nào cả. Tóm lại, bà đã trình bày trong bản tự khai gửi cho Tòa án ngày 18/11/2022. Yêu cầu Tòa án căn cứ theo bản tự khai đó mà giải quyết vụ án, bà không trình bày hay cung cấp chứng cứ gì thêm nữa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Xiong J có lời trình bày tại bản tự khai ngày 28/10/2022 (BL 97 - 98) và biên bản hòa giải ngày 09/01/2023 (BL 141) như sau:

Ông vẫn giữ nguyên ý kiến như bản tự khai ngày 28/10/2022. Về ý kiến của hai người làm chứng, ông có ý kiến như sau: Ông không biết ông N, ông N là nhân viên của bà T chứ không liên quan tới ông. Việc ông N nói ông cùng với bà T có mượn tiền ông D là không đúng, sai sự thật. Đối với ông L, ông biết ông L là bạn của bà T, ông có gặp ông L khoảng 2-3 lần chứ ông không có mối quan hệ bạn bè thân thiết gì với ông L. Ông không có thỏa thuận mượn nợ và không có ký bất cứ giấy tờ vay mượn nợ nào đối với ông D. Ông không hề liên quan đến việc nợ nần giữa bà T và ông D. Ông Xiong J không đồng ý yêu cầu của ông D.

Do các bên đương sự không tự thỏa thuận, hòa giải được với nhau về việc giải quyết vụ án, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã đưa vụ án ra xét xử.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 92/2023/ ST-DS ngày 13/4/2023 của Tòa án Nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D.

    Buộc bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn D số tiền vốn vay và lãi còn nợ là 4.535.525.114 đồng (bốn tỷ, năm trăm ba mươi lăm triệu, năm trăm hai mươi lăm ngàn, một trăm mười bốn đồng); trong đó, nợ vốn gốc: 4.000.000.000 đồng, nợ lãi: 535.525.114 đồng. Trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

  2. Kể từ ngày ông Nguyễn Văn D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Thị T chưa thanh toán đủ số tiền nêu trên thì hàng tháng bà T còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian và khoản tiền chưa thi hành án.
  3. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn D về việc buộc ông Xiong J liên đới trách nhiệm cùng bà Nguyễn Thị T trả số tiền nợ vay và lãi cho ông D.
  4. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số: 02/2023/QĐ-BPKCTT ngày 06/02/2023 của Tòa án Nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm xuất cảnh đối với bà Nguyễn Thị T. Phần tuyên về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong bản án không bị kháng cáo, kháng nghị. Việc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện theo quy định tại Chương VIII của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi bản án tuyên, ngày 27/4/2023 nguyên đơn ông Nguyễn Văn D kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.

Ngày 26/4/2023 bị đơn bà Nguyễn Thị T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Nguyên đơn kháng cáo: Đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm, buộc ông Xiong J chồng bà T phải chịu nghĩa vụ liên đới trách nhiệm trả nợ của bà T.
  • Bị đơn kháng cáo: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì bị đơn đã trả xong, xem xét tiền lãi tính quá nhiều so với tiền vốn.
  • Các đương sự không đồng ý thỏa thuận với nhau tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng:

Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm cho đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành phiên tòa đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung:

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự giữ y bản án dân sự sơ thẩm số 92/2023/DS-ST ngày 13/4/2023 của Toà án Nhân dân quận Bình Tân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D và bị đơn Nguyễn Thị T được nộp và đóng tạm ứng án phí phúc thẩm đúng thời hạn theo quy định tại Điều 273 và Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp thuận giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung kháng cáo:

[2.1] Về yêu cầu kháng cáo của bị đơn:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn có người đại diện theo ủy quyền đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng nguyên đơn khởi kiện chỉ dựa vào tờ giấy “Tiền Dương chuyển khoản cho T” có chữ viết của bà T là chưa đủ căn cứ. Vì trong quá trình giao dịch, hai bên thực hiện giao nhận tiền rất nhiều lần, nhiều nội dung chưa làm sáng tỏ, chưa rõ ràng nên chưa đủ cơ sở buộc bà T trả nợ. Nay, bị đơn xuất trình nhiều chứng cứ mới nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, đánh giá toàn diện và đối chất để làm rõ bản chất của sự việc.

[2.2] Đại diện bị đơn xuất trình nhiều tài liệu, chứng cứ mới, cho rằng:

  • Những tài liệu chứng cứ này được nộp ở phiên tòa phúc thẩm vì tại Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét. Do cùng thời điểm đó bà T cũng đang khởi kiện ông D bằng một vụ án khác được giải quyết tại Tòa án quận Gò Vấp, mà trong đó có liên quan về tài sản đảm bảo đối với số nợ đang giải quyết hôm nay. Nhưng cả hai Tòa án cấp sơ thẩm đều bỏ qua, không yêu cầu cung cấp để giải quyết cùng lúc, mặc dù bị đơn có trình bày. Nay phía bà T cung cấp nhiều chứng cứ để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình mà trước đây chưa được xem xét.
  • Bị đơn giải trình những chứng cứ về quá trình vay gồm: Thống kê các sao kê chuyển khoản giữa hai bên thể hiện toàn bộ quá trình giao dịch, hình thức giao dịch, mục đích chuyển tiền, số tiền giao nhận giữa ông D, bà T, tài liệu chứng minh lãi suất của ông D tính quá cao so với quy định, các giấy ghi nợ của ông D. Chứng cứ về việc trả nợ gồm: Ông D buộc bà T gán căn nhà ở Quận G để trừ nợ, và viết giấy nhận nợ “Tiền Dương chuyển khoản cho T” đồng thời lập các văn bản ủy quyền để lấy tài sản là hai căn nhà của bà T ở quận B. Như vậy, rõ ràng ông D quyết liệt lấy tài sản của bà T, trong khi các bên đã thanh toán sòng phẳng, dứt điểm và không còn nợ nần nhau. Chính vì vậy bị đơn kháng cáo đề nghị được xem xét lại toàn bộ.

[2.3] Người đại diện cho bên nguyên đơn thừa nhận:

  • Hai bên ông D, bà T có giao dịch làm ăn, mục đích ông D đưa tiền cho bà T là cùng hợp tác làm ăn kinh doanh thông qua hoạt động công ty của bà T, vì thời điểm này công ty của bà T đang kinh doanh có lãi. Sau đó nhận thấy không còn phù hợp vì bà T có ý gian dối nên ông D không hợp tác nữa. Nay, trước tài liệu chứng cứ mà bị đơn trình bày, nguyên đơn xác định là không biết rõ thời gian vay, không biết số vốn cho vay, không rõ lãi suất và cũng không biết bà T trả được bao nhiêu, mà chỉ căn cứ duy nhất là tờ giấy “Tiền Dương chuyển khoản cho T” để khởi kiện.
  • Những giấy tờ bị đơn xuất trình tại phiên tòa phúc thẩm là chứng cứ mới, chưa được công khai tại Tòa án cấp sơ thẩm.
  • Nguyên đơn không đồng ý việc kháng cáo của bị đơn, đồng thời đề nghị xem xét chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.

[2.4] Xét thấy,

nguyên đơn ông D khởi kiện bà T yêu cầu trả số tiền còn nợ 4.000.000.000 đồng (bốn tỷ đồng) căn cứ vào tờ giấy “Tiền Dương chuyển khoản cho T” có chữ viết của bà T thừa nhận số nợ.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, phía bị đơn phủ nhận giấy nợ này và cung cấp nhiều chứng cứ mới gồm: Các sao kê tài khoản ngân hàng thể hiện giữa ông D và bà Tâm giao n tiền rất nhiều lần, nhiều loại giấy tờ ghi số tiền vay mượn, Bản án của Tòa án Nhân dân quận Gò Vấp và Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Giấy yêu cầu thanh toán nợ quá hạn của ông D lập. Để bị đơn chứng minh rằng tất cả số tiền đều đã giải quyết xong và không còn nợ nần nhau.

Căn cứ vào lời khai của hai bên đương sự: Xét thấy việc giao, nhận tiền giữa ông D và bà T là thật. Số tiền ông D chuyển giao bằng nhiều hình thức như chuyển khoản qua cho công ty của bà T, giao trực tiếp cho đối tác của bà T, trả tiền hàng cho bà T. Tất cả đều xuất phát từ việc làm ăn của công ty bà T, lời khai này của hai bên đều phù hợp với Giấy “Tiền Dương chuyển khoản cho T” tại phần phía trên do chính ông D lập. Do vậy, số tiền này cần phải làm rõ ông D giao cho ai, giao cho cá nhân bà T hay công ty của bà T để làm ăn. Vì hai bên đều cho rằng số tiền ông D đưa nhằm phục vụ việc hoạt động mua bán của công ty bà T (Công ty TNHH S) và số tiền vay đều xuất phát từ đây. Điều này cũng phù hợp với chứng cứ mới mà bên bà T xuất trình là giấy “Yêu cầu thanh toán nợ quá hạn” ghi ngày 08/9/2020 của ông D đòi nợ đối với bà T. Cần làm rõ giao tiền cho ai, có như vậy mới xác định đúng đối tượng trả nợ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị đơn xuất trình tờ giấy “Yêu cầu thanh toán nợ quá hạn” của nguyên đơn ghi ngày 08/9/2020 đòi nợ đối với bà T. Nội dung giấy này, ông D đòi bà T số nợ 4.122.500.000 đồng từ ngày bà T viết giấy là ngày 22/7/2020 đến ngày 08/9/2020 (47 ngày) với số tiền lãi là 3.770.000.000 đồng. Bên nguyên đơn thừa nhận giấy này do nguyên đơn lập với lãi suất tính rất cao so với quy định và buộc bị đơn chịu lãi nhằm gây áp lực để bị đơn trả nợ.

Từ chứng cứ và lời khai của bên nguyên đơn, bị đơn cho rằng toàn bộ số nợ ông D đều tính với lãi suất này, điều này gây áp lực rất lớn cho bị đơn, nên phía bị đơn đã trả xong hết, đề nghị cho đối chiếu toàn bộ chứng cứ sao kê nêu trên.

Cũng tại giấy này, còn có liên quan đến Công ty TNHH S mà hai bên cùng làm ăn. Đại diện nguyên đơn thừa nhận vì hai bên làm ăn thông qua công ty nên mới có số tiền vay hôm nay. Như vậy, điều này một lần nữa khẳng định việc vay mượn nợ có liên quan đến hoạt động của công ty. Do đó, ngoài làm rõ khoản nợ vay thì cũng cần xác định việc vay mượn là của cá nhân bà T hay chính công ty của bà T, nhằm xác định chính xác nghĩa vụ thanh toán nợ.

Mặt khác, phía bị đơn còn cung cấp thông tin ly hôn của bà T và chồng là ông Xiong J, theo Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 4358/2022/QĐST-HNGĐ ngày 05/12/2022 của Toà án Nhân dân thành phố Thủ Đức thể hiện giữa hai bên không có tài sản chung, nợ chung. Tuy nhiên, do nguyên đơn kháng cáo đề nghị xem xét nợ chung của vợ chồng, buộc nghĩa vụ liên đới trả nợ, nhưng nguyên đơn không xác định được thời gian cho vay, cũng như số tiền vay, lãi suất... quá trình vay diễn ra trong khoản thời gian nào có trong thời kỳ hôn nhân hay không, để xem xét nghĩa vụ liên đới trả nợ.

Vì đây là chứng cứ mới, chứa đựng nhiều nội dung quan trọng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi ích hợp pháp của tất cả các đương sự trong vụ án. Đặc biệt là liên quan đến việc kháng cáo của nguyên đơn nhưng chưa được xem xét đánh giá. Do vậy, cần phải làm rõ mới đủ căn cứ xác định nghĩa vụ liên đới trả nợ của người liên quan là ông Xiong J theo yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

[2.5] Ngoài ra,

các bên cũng thừa nhận hợp đồng vay tiền này có thực hiện thủ tục đảm bảo bằng hình thức là bà T lập các văn bản ủy quyền hai căn nhà ở quận B cho ông D để đảm bảo cho số tiền vay. Nhưng trong quá trình thực hiện thì các bên phát sinh tranh chấp và khởi kiện tại Tòa án Nhân dân quận Gò Vấp. Như vậy, hợp đồng ủy quyền này nhằm đảm bảo cho số tiền vay nào, số nợ là bao nhiêu, lãi suất thế nào, thỏa thuận ra sao...có liên quan gì đến yêu cầu khởi kiện đang giải quyết hay không. Hơn nữa trong quá trình thanh toán, bị đơn còn khai nhận có gán một căn nhà khác tại Quận G cho ông D để cấn trừ nợ nên số nợ đã trả xong. Bị đơn cung cấp hai Bản án giải quyết đối với việc khởi kiện nêu trên. Đây là chứng cứ mới cần phải được xem xét.

Do tại phiên tòa hôm nay có nhiều tình tiết mới và lời khai của các đương sự cũng hoàn toàn khác, mâu thuẫn so với quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm nên cần thiết có thể thu thập để xem xét những lời khai, chứng cứ của vụ án nêu trên, nhằm đảm bảo sự chặt chẽ và làm sáng tỏ bản chất vụ án.

[2.6] Từ đó đó thấy rằng,

đây là hợp đồng vay tiền, diễn biến việc vay nợ rất phức tạp, số tiền giao dịch lớn, nhưng các bên không lập văn bản mà chỉ thỏa thuận miệng, đến nay vẫn không xác định rõ nội dung việc thỏa thuận. Trong quá trình thực hiện giao dịch các bên còn cấn trừ tài sản, và lập các văn bản không đúng quy định pháp luật nhằm đối trừ nghĩa vụ, chính vì vậy mà phát sinh tranh chấp trong thời điểm thực hiện hợp đồng vay mượn dẫn đến việc khởi kiện tại Tòa án. Vì vậy, khi các vấn đề tranh chấp của các bên xảy ra cùng lúc, các Tòa giải quyết cùng thời điểm nên lẽ ra cần phải nhập vụ án để cùng lúc giải quyết triệt để các vấn đề. Nhưng các đương sự cũng không có yêu cầu, Tòa án cũng không xem xét, chính vì vậy mà có nhiều chứng cứ, nhiều tình tiết mà đương sự đã không cung cấp được tại Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết một cách trọn vẹn, thấu đáo.

Nay, tại phiên tòa phúc thẩm do có quá nhiều tài liệu chứng cứ mới, nhiều tình tiết mới cùng các lời khai nhận của các bên, mà lời khai này cũng hoàn toàn khác và mâu thuẫn so với thời điểm giải quyết tại cấp sơ thẩm. Nên tại phiên tòa phúc thẩm không thể giải quyết hết, công khai đối chất từng chi tiết cụ thể để làm rõ và sáng tỏ toàn diện các vấn đề. Mặt khác các chứng cứ này cũng cần phải có thời gian kiểm tra, xem xét mới đánh giá được chính xác.

Vì lẽ đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải hủy bản án sơ thẩm giao hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung, có như vậy mới đảm bảo hai cấp xét xử và đảm bảo được hết quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.

Do có tình tiết mới nên việc hủy án không phải lỗi của cấp sơ thẩm.

[3] Từ những nhận định nêu trên

nên không chấp nhận đề nghị giữ y bản án sơ thẩm của đại diện Viện kiểm sát Thành phố Hồ Chí Minh.

[4] Án phí dân sự phúc thẩm:

Vì hủy bản án nên bà T và ông D kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn lại bà T, ông D số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mỗi người là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 308, Điều 313,148 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T.
    • - Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 92/2023/DS-ST ngày 13 tháng 4 năm 2023 của Toà án Nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
    • - Giao toàn bộ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 262/2023/TLPT-DS ngày 21 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” về Tòa án Nhân dân quận Bình Tân giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
  2. Về án phí dân sự:
    • - Án phí dân sự sơ thẩm được quyết định khi vụ án được giải quyết lại.
    • - Án phí dân sự phúc thẩm: Bà T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn lại cho bà T là 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/ 0011240 ngày 27/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân.
    • - Hoàn lại cho ông D số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0011242 ngày 27/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu

Lê Thị Ngọc Hương

Phạm Thị K

Nơi nhận:

  • - Tòa án Nhân dân Tối Cao;
  • - Tòa án Nhân dân Cấp Cao tại TP.HCM;
  • - VKSND Cấp Cao tại TP.HCM;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục THADS quận Bình Tân;
  • - Tòa án Nhân dân quận Bình Tân;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Kim

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 857/2023/DS-PT ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 857/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Tâm. - Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 92/2023/DS-ST ngày 13 tháng 4 năm 2023 của Toà án Nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. - Giao toàn bộ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 262/2023/TLPT-DS ngày 21 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” về Tòa án Nhân dân quận Bình Tân giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. 2. Về án phí dân sự: - Án phí dân sự sơ thẩm được quyết định khi vụ án được giải quyết lại. - Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Tâm không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn lại cho bà Tâm là 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/ 0011240 ngày 27/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân. Hoàn lại cho ông Dưỡng số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0011242 ngày 27/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân. 3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger