|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 853/2023/DS-PT
Ngày 21 – 12 – 2023
V/v “Tranh chấp QSDĐ; yêu cầu hủy GCN.QSDĐ”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tửu
- Các Thẩm phán: Ông Phan Đức Phương
- Bà Huỳnh Thanh Duyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên cao.
Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 603/2023/TLPT-DS, ngày 15 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 69/2023/DS-ST, ngày 16 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 3149/2023/QĐ-PT, ngày 05 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hà Thị Đ, sinh năm 1935; Nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Dương Thị L, sinh năm 1970; Nơi cư trú: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (theo Giấy ủy quyền ngày 11/11/2019 tại UBND xã B - có mặt)
- Bị đơn:
- Ông Dương Hữu Y, sinh năm 1979 (vắng mặt);
- Bà Đặng Thị D (Đặng Thị V), sinh năm 1985 (có mặt);
Cùng nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Trần Văn L1, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (Hợp đồng ủy quyền ngày 03/12/2020 tại Văn phòng C - có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Võ Ngọc L2, sinh năm 1974 (vắng mặt).
- Bà Dương Thị H, sinh năm 1969 (vắng mặt).
Cùng nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bà Dương Thị Bích T, sinh năm 1984 (vắng mặt).
- Ông Danh L3, sinh năm 1982 (có mặt).
Cùng nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
- Ủy ban nhân dân (gọi tắt là: UBND) huyện C; Địa chỉ: Ấp V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A; Địa chỉ: H Q, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ngân hàng TMCP N2; Địa chỉ trụ sở: Số A T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung T1 – Trưởng Phòng G (Theo Giấy ủy quyền số 81/UQ-AGI-HCNS ngày 15/12/2020 của Ngân hàng TMCP N2 chi nhánh A; Địa chỉ Phòng G: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Dương Thị Bé H1, sinh năm 1961; Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Dương Công D1, sinh năm 1963; Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Dương Bá T2, sinh năm 1964; Nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Dương Thị L4, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Tổ A, ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Dương Hồng L5, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Dương Văn T3, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Dương Thị L, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Tổ A, ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
- Ông Dương Văn T3 (Tạo E), sinh năm 1975; Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
2
- Ông Dương Hồng K, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
- Bà Dương Thị M, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Tổ B, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Người kháng cáo:
- Bà Hà Thị Đ là nguyên đơn.
- Ông Dương Hữu Y, bà Đặng Thị D là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện; bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Hà Thị Đ do bà Dương Thị L đại diện uỷ quyền trình bày: Bà Hà Thị Đ và ông Dương Bá Đ1 (chết năm 2019) được cha mẹ cho một số diện tích đất và ông bà cũng có tạo lập thêm một phần. Toàn bộ diện tích đất đều do ông Đ1 đứng tên khoảng hơn 20 công. Vợ chồng bà có 13 người con (07 con trai, 06 con gái) và ông Đ1 đã tiến hành phân chia tài sản cho các con trai mỗi người một khuôn đất hơn 02 công đất; phần còn lại hơn 12 công đất tầm cắt để làm hương hỏa tọa lạc tại xã B, huyện C. Riêng ông Y là con trai út nên đã chia cho ông Y hơn 05 công tọa lạc tại xã B, huyện C. Do sống chung nhà nên ông bà vẫn giao cho ông Y trực tiếp quản lý canh tác phần diện tích đất hương hỏa để nuôi vợ chồng bà và lo giỗ ông bà. Nhưng sau khi ông Đ1 chết, khoảng 5, 6 tháng sau thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn khi ông Dương Hồng L5 (anh của ông Y) về chung sống cùng với bà, vợ chồng ông Y dọn ra ở riêng không phụng dưỡng. Đồng thời, phía ông Y mới cho hay là: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (gọi tắt là: GCN.QSDĐ) đã do vợ chồng ông Y đứng tên và không đồng ý trả lại giấy hay đất, cũng như không đồng ý đưa hoa lợi, lợi tức gì cho bà nên mới phát sinh tranh chấp.
Việc vợ chồng ông Y được UBND huyện C cấp GCN.QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 493135 (số vào sổ CH 02984Bf) ngày 08/01/2010 có diện tích 23.461m² (mang tên Dương Hữu Y, Đặng Thị V), cũng như sau này có chuyển nhượng cho ai bà Đ không biết. Vì phần đất hương hỏa khoảng 12 công tầm cắt (tương đương khoảng 18.588m²) là tài sản chung của vợ chồng bà chưa tặng cho bất kỳ ai, nay ông Đ1 đã chết thì sẽ do bà quản lý và được toàn quyền sử dụng. Do đó, bà khởi kiện yêu cầu:
- Hủy GCN.QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 669569 (số vào sổ: CS05908) ngày 10/01/2017 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Dương Hữu Y, bà Đặng Thị V diện tích 18.588m².
- Buộc ông Y, bà D trả lại cho nguyên đơn diện tích đất là 18.588m² theo GCN.QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 669569 (số vào sổ: CS05908) ngày 10/01/2017 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Dương Hữu Y, bà Đặng Thị V, đất tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
* Theo bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Dương Hữu Y và người đại diện theo ủy quyền của ông Y là ông Trần Văn L1 trình bày:
3
Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông bà nội để lại cho cha mẹ ông Y và do cha ông Y là ông Dương Bá Đ1 đứng tên. Khi ông Đ1 còn sống đã có cho các con trai mỗi người một khuôn đất quản lý, canh tác. Đến năm 2007, 2008 có chính sách đo đại trà nên nhờ người đo cụ thể diện tích và đến UBND xã B lập hợp đồng tặng cho từng người con. Riêng ông là con trai út nên được tặng cho nhiều hơn, khoảng 12.000m² đất 2L ở xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Ngoài ra, ông nhận chuyển nhượng của ông Dương Bá T2 6.500m² (có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2007, 2008) và đứng tên luôn phần diện tích đất cha mẹ tặng cho ông Dương Hồng L5 (hơn 2.300m² đất 2L, sau này đã thỏa thuận hoàn trả lại giá trị cho ông L5, do khi đó ông L5 không có ở địa phương); đồng thời nhập phần diện tích đất đã được tặng cho thành diện tích đất 23.461m² và vợ chồng ông được cấp GCN.QSDĐ vào năm 2010.
Đến năm 2017 thì ông có chuyển nhượng diện tích đất 2.373m² cho ông Võ Ngọc L2 (bằng phần đất ông mua lại của ông L5 trước đây) giá chuyển nhượng 120.000.000 đồng và diện tích 2.500m² cho bà Dương Thị Bích T - không có nhận tiền chuyển nhượng do ông Đ1 yêu cầu tách cho bà T (có lập hợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng công chứng). Sau khi chuyển nhượng thì ông tách thửa sang tên và vợ chồng ông được cấp lại GCN.QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 669569 (số vào sổ: CS05908) ngày 10/01/2017 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A mang tên ông Dương Hữu Y, bà Đặng Thị V với diện tích 18.588m².
Do bà Đ lựa chọn sống cùng với ông L5 nên vợ chồng ông không còn sống cùng nhà và không còn chăm sóc bà nữa, bà Đ đến nhà ông đòi lại GCN.QSDĐ và phát sinh mâu thuẫn cho đến nay. Nay ông xác định ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Đ do vợ chồng ông đã được cấp GCN.QSDĐ theo trình tự thủ tục đúng pháp luật. Riêng vợ ông tên là Đặng Thị D nhưng khi cấp GCN.QSDĐ các cơ quan chức năng đã ghi sai tên là Đặng Thị V nhưng vợ chồng ông chưa làm thủ tục đính chính.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Đặng Thị D (Đặng Thị V) trình bày:
Bà là vợ ông Dương Hữu Y, phần đất hiện đang tranh chấp là vợ chồng bà được cha mẹ ông Yên tặng cho và nhận chuyển nhượng của ông T2, ông L5. Bà thống nhất ý kiến của ông Y trình bày, trong vụ án bà không có yêu cầu hay tranh chấp gì. Về tên họ của bà theo Giấy chứng minh nhân dân là Đặng Thị D, do trước đây làm thủ tục cấp GCN.QSDĐ có sai sót ghi Đặng Thị V nên đã có làm thủ tục nhờ UBND xã xác nhận là một người khi làm thủ tục vay ở Ngân hàng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị M, bà Dương Thị L, bà Dương Thị L4, bà Dương Thị Bích T, ông Dương Hồng K, ông Dương Văn T3, ông Dương Văn T3 (Tạo Em) có ý kiến: Trước khi cha Dương Bá Đ1 chết và cha Đ1, mẹ Hà Thị Đ còn minh mẫn, sức khỏe bình thường đã có chia cho các người con trai trong gia đình (D1, T2, L5, T3, Tạo E, K, Y) mỗi người một phần đất ruộng từ đất của cha, mẹ và cha mẹ có để lại một số mẫu đất có diện tích là 18.588m², tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang để làm ruộng dưỡng già
4
và hương hoả cho gia đình sau này, chứ không cho ai. Các ông bà xác định không tranh chấp tài sản chung của cha mẹ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Bá T2, ông Dương Công D1, bà Dương Thị Bé H1 có ý kiến: nguồn gốc đất trên của ông bà để lại cho cha mẹ, lúc cha còn sống thì cha mẹ thống nhất tặng cho lại vợ chồng ông Y để làm tài sản thờ cúng ông bà. Theo đó đến khoảng năm 2007, 2008 thì cha mẹ đến UBND xã B làm thủ tục tặng cho vợ chồng ông Y. Nay trước việc tranh chấp tài sản cha mẹ đã cho vợ chồng ông Y, các ông bà không tranh chấp.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị H, ông Võ Ngọc L2 có ý kiến: cha Dương Bá Đ1 và mẹ Hà Thị Đ chia cho các anh em trong gia đình các con trai mỗi người một phần; phần đất còn lại là 18.588m² tọa lạc ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang, đây là tài sản chung của cha mẹ nên ông bà không có tranh chấp.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Hồng L5 có ý kiến: Ông có chuyển nhượng lại cho ông Y phần đất mà ông đã được cha mẹ chia cho khoảng 02 công giá 70.000.000 đồng, ông không tranh chấp với ông Y. Trước đây cha mẹ có chia đất cho 07 người con trai, mỗi anh em một phần đất khoảng 2 công; phần ông Y nhiều hơn khoảng 3 công, do ông không có mặt thời điểm đó nên không nắm rõ thủ tục như thế nào.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện C (Công văn số 927/UBND-VP ngày 08/11/2022) có ý kiến:
- Qua kiểm tra, rà soát hồ sơ, dữ liệu cho thấy không có thông tin cấp GCN.QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại xã B, huyện C cấp cho ông Dương Hữu Y, sinh năm 1979, thường trú tại ấp B, xã B, huyện C.
- Thông tin về GCN.QSDĐ số 00538/bF được UBND huyện C cấp ngày 19/9/1991, diện tích 25.721m², loại đất 2L do ông Dương Bá Đ1 đứng tên, đất tọa lạc tại xã B, huyện C có lập các thủ tục tặng cho như sau:
- Tặng cho ông Dương Văn T3, sinh năm 1975 và bà Trần Thị T4, ngụ ấp B, xã B diện tích 1.875m² (diện tích đo đạc thực tế là 2.411m²) thuộc thửa 340, tờ bản đồ số 82.
- Tặng cho ông Dương Văn T5 và bà Trương Thị N, ngụ ấp B, xã B diện tích 1.875m²(diện tích đo đạc thực tế là 2.591m²) thuộc thửa 344, tờ bản đồ số 82.
- Tặng cho ông Dương Hồng K và bà Lê Thị N1, ngụ ấp B, xã B diện tích 1.875m²(diện tích đo đạc thực tế là 2.373m²) thuộc thửa 399, tờ bản đồ số 82.
- Tặng cho ông Dương Văn T3, sinh năm 1967 và bà Trần Thị T6, ngụ ấp B, xã B diện tích 1.875m² (diện tích đo đạc thực tế là 2.631m²) thuộc thửa 345, tờ bản đồ số 82.
- Tặng cho ông Dương Công D1 và bà Nguyễn Thị P, ngụ ấp B, xã B diện tích 1.875m² (diện tích đo đạc thực tế là 2.750m²) thuộc thửa 343, tờ bản đồ số 82.
Riêng phần diện tích còn lại là 16.346m² của GCN.QSDĐ cấp năm 1991 do ông Dương Bá Đ1 đứng tên, khi kiểm tra đối chiếu bản đồ địa chính chính quy thể hiện tờ, thửa đất này đã được cấp GCN.QSDĐ cho ông Dương Hữu Y và bà
5
Đặng Thị V có số CH02984bF do UBND huyện cấp ngày 08/01/2010, thuộc thửa số 346, tờ bản đồ số 82.
Tuy nhiên, Văn phòng Đ2 chi nhánh C1 xác nhận hồ sơ năm 2010 chưa được lưu trên hệ thống, thất lạc hồ sơ cấp giấy nên không trích lục được hồ sơ cấp GCN.QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH02984bF do UBND huyện cấp ngày 08/01/2010, thuộc thửa số 346, tờ bản đồ số 82 do ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị V đứng tên, đất tọa lạc tại xã B. Do đó, không có cơ sở xác định nguồn gốc sử dụng đất của GCN.QSDĐ đã cấp cho ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị V nên không có cơ sở xác định giá trị pháp lý phần đất còn lại của GCN.QSDĐ cấp năm 1991 cho ông Dương Bá Đ1.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP N2 (V1) chi nhánh A có ý kiến:
Ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị D có vay vốn tại V1 theo Hợp đồng cho vay từng lần ngắn hạn số 3150/2020/NH-VCB-AGI-TGLX ngày 02/10/2020, số tiền vay 400.000.000đ, ngày vay: 07/10/2020.
Tài sản thế chấp: GCN.QSDĐ số CG 669569, số vào sổ CS05908. Thửa đất số: 346. Tờ bản đồ số: 82. Diện tích: 18.588m² đất nông nghiệp, toạ lạc tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 10/01/2017 do ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị D đứng tên. Thông qua Hợp đồng thế chấp số 945/2020/HĐTC-AGI-TGLX ngày 02/10/2020 với V1 - Chi nhánh A - Phòng G, được Phòng C2, huyện C công chứng ngày 06/10/2020 và đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 06/10/2020 tại Văn Phòng Đ2 - Chi nhánh C1, tỉnh An Giang.
Hồ sơ vay vốn của Ông Dương Hữu Y tại V1 là hợp lệ: Hợp đồng ký giữa các bên đầy đủ tính pháp lý, có công chứng chứng thực và đăng ký giao dịch đảm bảo. Do ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị D chưa vi phạm những điều khoản đã ký kết với Ngân hàng nên Ngân hàng xác định không có yêu cầu Tòa án Nhân dân tỉnh An Giang giải quyết buộc ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị D phải thanh toán Hợp đồng cho vay từng lần ngắn hạn số 3150/2020/NH-VCB-AGI-TGLX ngày 02/10/2020 trước hạn và thanh lý tài sản bảo đảm đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 945/2020/HDTC-AGI-TGLX ngày 02/10/2020.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A có ý kiến: (Công văn số 2722/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 09/9/2020)
Khu đất có diện tích 23.461m² đất trồng lúa tọa lạc xã B, huyện C do ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị V quản lý, sử dụng theo GCN.QSDĐ số BA 493135 (số vào sổ CH02984Bf) do UBND huyện C cấp ngày 08/01/2010.
Ngày 13/12/2016, ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị V chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên với diện tích 4.873m² đất trồng lúa cho ông Danh L3 và bà Dương Thị Bích T, ông Võ Ngọc L2 và bà Dương Thi H2 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được UBND xã B chứng nhận cùng ngày và nộp hồ sơ đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND huyện C.
Ngày 09/01/2017, Văn phòng Đ2 Chi nhánh C1 chỉnh lý biến động trên GCN.QSDĐ với nội dung chuyển nhượng 2.500m² đất trồng lúa cho ông Danh L3
6
và bà Dương Thị Bích T và chuyển nhượng 2.373m² đất trồng lúa cho ông Võ Ngọc L2 và bà Dương Thị H, diện tích còn lại 18.588m².
Do ông Y và bà V chuyển nhượng một phần diện tích Giấy chứng nhận và có nhu cầu cấp mới GCN.QSDĐ nên ngày 10/01/2017, Sở T đã cấp đổi GCN.QSDĐ gồm: số GCN.QSDĐ số CG 669567 (số vào sổ CS05906) cho ông Danh L3 và bà Dương Thị Bích T, GCN.QSDĐ số CG 669568 (số vào sổ CS05907) cho ông Võ Ngọc L2 và bà Dương Thị H và GCN.QSDĐ số CG 669569 (số vào sổ CS05908) cho ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị V.
Căn cứ Điều 37 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định khi người sử dụng đất thực hiện các quyền của người sử dụng đất mà phải cấp mới GCN.QSDĐ thì cơ quan có thẩm quyền cấp GCN.QSDĐ là Sở T. Do đó, việc Sở T thực hiện cấp đổi Giấy chứng nhận theo yêu cầu cho ông Danh L3 và bà Dương Thị Bích T, ông Võ Ngọc L2 và bà Dương Thị H, ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị V là đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định pháp luật.
Hồ sơ cấp GCN.QSDĐ cho ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị V hiện nay được lưu trữ tại Văn phòng Đ2 Chi nhánh C1. Nếu Tòa án có nhu cầu thu thập tài liệu, chứng cứ thì liên hệ Văn phòng Đ2 Chi nhánh C1 để được cung cấp theo quy định.
Riêng việc cấp GCN.QSDĐ cho ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị V do UBND huyện C thực hiện. Đề nghị Tòa án liên hệ UBND huyện C để có ý kiến về nội dung trên theo thẩm quyền.
* Tại Công văn số 13/CNTT-CC ngày 25/10/2022 về việc Phúc đáp sao lục tài liệu của C3 - Môi trường phía Nam:
- - Chi cục chỉ lưu trữ sổ địa bộ và bản đồ giải thửa trước năm 1975. Không lưu các thông tin dữ liệu về hồ sơ gốc cấp GCN.QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA493135 (số vào sổ CH02984Bf) ngày 08/01/2010 do UBND huyện C cấp cho ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị V nên Chi cục không cung cấp được các thông tin nêu trên theo yêu cầu của Tòa án.
- - Về việc UBND huyện C xác nhận hồ sơ bị thất lạc thì việc cấp GCN.QSDĐ nêu trên cho ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị V có căn cứ pháp lý hay không đề nghị Tòa án liên hệ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A để được hỗ trợ.
* Các đương sự thống nhất Bản trích đo địa chính do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh C1 lập ngày 11/8/2020; Kết quả chứng thư thẩm định giá ngày 07/6/2023 của Công ty Cổ phần T8: giá đất 195.710đồng/m²; Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm: thống nhất yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 69/2023/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 34, Điều 37; khoản 1 Điều 147; Điều 157, Điều 165; Điều 166; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 3 Điều 4, Điều 31, Điều 33, Điều 50 Luật đất đai năm 2003; Khoản 1 và khoản 5 Điều 166, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15, khoản 1 và
7
khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Đ đối với ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị D (Đặng Thị V).
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Đ đối với ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị D (Đặng Thị V) về việc buộc ông Y, bà D trả lại cho bà diện tích đất 15.036m² và yêu cầu hủy GCN.QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 669569 (số vào sổ: CS05908) ngày 10/01/2017 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Dương Hữu Y, bà Đặng Thị V diện tích 18.588m2.
- Về chi phí tố tụng: ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị D (Đặng Thị V) có trách nhiệm hoàn lại cho bà Hà Thị Đ số tiền chi phí tố tụng đã nộp là 14.291.800đồng (mười bốn triệu, hai trăm chín mươi mốt nghìn, tám trăm đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Hoàn trả lại cho bà Hà Thị Đ số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0006424 ngày 28/4/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Phú.
- Ông Dương Hữu Y và bà bà Đặng Thị D (Đặng Thị V) có trách nhiệm liên đới nộp số tiền 31.806.477đồng (ba mươi mốt triệu, tám trăm lẻ sáu nghìn, bốn trăm bảy mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị D (Đặng Thị V) được quyền tiếp tục quản lý và sử dụng quyền sử dụng đất có tổng diện tích đất 18.588m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 669569 (số vào sổ: CS05908) ngày 10/01/2017 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Dương Hữu Y, bà Đặng Thị V diện tích 18.588m², trong đó thuộc quyền sử dụng của ông Y và bà D có diện tích 15.036m² và tạm tiếp tục quản lý diện tích 3.552m² là phần di sản thừa kế của ông Dương Bá Đ1 chưa phân chia.
Buộc ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị D (Đặng Thị V) có trách nhiệm liên đới trả cho bà Hà Thị Đ giá trị phần diện tích đất 3.552m² thuộc quyền sử dụng của bà Đ với số tiền là 695.161.920đồng (sáu trăm chín mươi lăm triệu, một trăm sáu mươi mốt nghìn, chín trăm hai mươi đồng).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết về quyền và nghĩa vụ trong thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 21/8/2023, nguyên đơn là bà Hà Thị Đ có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 26/8/2023, bị đơn là ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị D kháng cáo bản án sơ thẩm. Lý do kháng cáo: Nguồn gốc phần đất có diện tích 3.500m² do cha mẹ cho, đã được UBND huyện C cấp GCN.QSDĐ hợp pháp cho bị đơn.
8
Vợ chồng bị đơn đã canh tác phần đất tranh chấp ổn định từ trước đến nay các thành viên trong gia đình không ai phản đối. Do đó, bị đơn kháng cáo đề nghị bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên và xem xét lại chi phí tố tụng, án phí dân sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Người kháng cáo bà Hà Thị Đ (do Dương Thị L đại diện) trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, do ông Y cho rằng đất tranh chấp là của cha mẹ cho nhưng ông Y không có chứng cứ nào để chứng minh là đất do cha mẹ cho; Việc ông Y bà D (V) đứng tên GCN.QSDĐ là do tự kê khai đăng ký không được sự đồng ý của cha, mẹ; Khi ông Đ1 còn sống đã phát hiện việc ông Y, bà D tự kê khai đăng ký đứng tên quyền sử dụng đất nên ông Đ1 đã đòi ông Y bà D trả nhiều lần nhưng ông Y, bà D không trả; Cha mẹ ông Y có cho ông Y 05 công đất 02 lúa nhưng là ở xã B chứ không phải là phần đất ở xã B mà ông Y, bà D đứng tên đang có tranh chấp (phần đất ông Đ1, bà Đ cho ông Y ở xã B thì ông Đ1, bà Đ chưa đứng tên), phần đất 05 công cha mẹ cho ông Y ở xã B thì ông Y đã bán cho ông Dương Văn T3 vào năm 2007 nên không còn nữa. Vì thế, bà L đại diện bà Đ yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà Đ, sửa án sơ thẩm; chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đ.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Danh L6 và ông Dương Hồng K thống nhất như trình bày của bà L nêu trên.
- - Người kháng cáo ông Dương Hữu Y, bà Đặng Thị D (Đặng Thị V) do ông Trần Văn L1 đại diện, trình bày: Giữ nguyên lý do và yêu cầu kháng cáo như đơn kháng cáo của ông Y, bà D đã nêu trên; không đồng ý đối với kháng cáo của bà Đ, yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Y, bà D; Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, từ khi thụ lý đến thời điểm hiện nay thấy rằng Thẩm phán; Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm.
- Về nội dung: Khi giải quyết Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá toàn diện chứng cứ, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, tại cấp phúc thẩm không có căn cứ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn; giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện và đầy đủ chứng cứ; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
9
- Về thủ tục tố tụng:
- + Kháng cáo của bà Hà Thị Đ, ông Dương Hữu Y, bà Đặng Thị D (V) làm trong hạn luật định và hợp lệ được xem xét tại cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại không có kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.
- + Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại 26, 34, 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đối với kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn, xét:
[1] Quá trình giải quyết vụ án các đương sự thống nhất: Vị trí khu đất tranh chấp theo Bản trích đo địa chính do Văn phòng Đăng ký đất đai, Chi nhánh huyện C1 lập ngày 11/8/2020, qua đo đạc thực tế, thể hiện: Thửa đất số 346, có diện tích 18.588m² đã cấp giấy chứng nhận cho ông Y, bà D; Chứng thư định giá tài sản do Công ty Cổ phần T8 lập ngày 07/6/2023, giá đất tranh chấp có giá là 195.710đ/m².
[2] Quá trình giải quyết vụ án các đương sự thống nhất bà Hà Thị Đ với ông Dương Bá Đ1 (sinh năm 1935, chết ngày 13/3/2019) là vợ chồng và có 13 người con chung tên Dương Công D1, Dương Thị M, bà Dương Thị L, bà Dương Thị L4, bà Dương Thị Bích T, ông Dương Hồng K, ông Dương Văn T3, ông Dương Văn T3 (T), ông Dương Hồng L5, bà Dương Thị H, bà Dương Thị Bé H1, ông Dương Bá T2, ông Dương Hữu Y. Bà Đ và ông Đ1 đã được UBND huyện C cấp GCN.QSDĐ số 00538/bF ngày 19/9/1991, diện tích 25.721m², loại đất 2L do ông Dương Bá Đ1 đứng tên, đất tọa lạc tại xã B, huyện C. Khi ông Đ1 còn sống có chia cho các người con trai mỗi người một phần đất có lập các thủ tục tặng cho như sau: Đã lập hợp đồng tặng cho 5 người con gồm Dương Bá T2, Dương Hồng K, Dương Văn T3 (sinh năm 1967), Dương Văn T3 (sinh năm 1975), Dương Công D1; trong đó mỗi người 1.875m² năm 2007 (tổng cộng 9.375m²), nên còn lại diện tích 16.346m² đất. Ngoài ra, sau đó ông Đ1 bà Đ có tặng cho Dương Thị Bích T diện tích 2.500m² trong tổng số diện tích đất 16.346m² còn lại mà ông Đ1 đã được cấp giấy chứng nhận năm 1991.
Nguyên đơn bà Đ cũng như bà L người đại diện ủy quyền của bà Đ và các người con là bà M, ông K, bà L4, ông T3, ông T3 (Em), ông L5, bà T, bà H đều cho rằng phần đất khi ông Đ1 còn sống phân chia cho các con trai và phần cho bà T (tách thửa năm 2015) nêu trên phần còn lại là để ông Đ1, bà Đ cùng ông Y quản lý canh tác, lo thờ cúng và thu thập cho ông bà nên không cho ông Y phần đất còn lại trong GCN.QSDĐ ông Đ1 đứng tên năm 1991. Đối với phần ông Y là út nên được chia phần nhiều hơn khoảng 5 công đất 2L nhưng là đất tại xã B.
Ông Y cũng như ông L1 đại diện ủy quyền cho rằng sau khi cha Đương chia đất cho các anh em, còn lại hơn 12.000m² cha mẹ để làm hương quả ở xã B thì chia cho ông, cũng có lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cùng thời điểm với
10
các anh em khác tại UBND xã B; Ngoài ra ông còn nhận chuyển nhượng của ông T2 khoảng 6.500m² (ông T2 đã nhận chuyển nhượng từ ông P1 năm 1998) và ông đứng tên luôn phần chia của ông Dương Hồng L5 nên năm 2010 được cấp giấy chứng nhận diện tích 23.461m². Sau đó ông đã trả cho ông L5 số tiền 70.000.000 đồng để nhận luôn phần đất của ông L5 được chia và đến năm 2016 đã chuyển nhượng cho vợ chồng H đúng phần đất này là 2.373m² giá 120.000.000 đồng và theo ý ông Đ1 yêu cầu thì ông (Y) đã lập thủ tục chuyển nhượng cho vợ chồng T diện tích 2.500m² (không có nhận tiền). Vì vậy vợ chồng ông còn lại 18.588m² đất 2L ở xã B hiện bà Đ đang tranh chấp.
Theo Công văn số 927/UBND-VP ngày 08/11/2022 của UBND huyện C về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy GCN.QSDĐ giữa bà Hà Thị Đ và ông Dương Hữu Y, bà Đặng Thị D, đất tọa lạc tại xã B, cung cấp thông tin về GCN.QSDĐ số 00538/bF được UBND huyện C cấp ngày 19/9/1991, diện tích 25.721m², loại đất 2L do ông Dương Bá Đ1 đứng tên, đất tọa lạc tại xã B, huyện C sau đó có lập các thủ tục tặng cho cho 5 người con: Dương Bá T2, Dương Hồng K, Dương Văn T3 (sinh năm 1967), Dương Văn T3 (sinh năm 1975), Dương Công D1: mỗi người 1.875m² năm 2007 (tổng cộng 9.375m²), nên còn lại diện tích 16.346m² nhưng trên bản đồ hiện tại thể hiện đã cấp GCN.QSDĐ số CH02984bF ngày 08/01/2010, thuộc thửa 346, tờ bản đồ số 82 cho ông Dương Hữu Y, bà Đặng Thị V. Vì thất lạc hồ sơ cấp giấy nên không trích lục được hồ sơ cấp GCN.QSDĐ của ông Y, bà V. Do đó, không có cơ sở xác định nguồn gốc sử dụng đất của GCN.QSDĐ đã cấp cho ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị V nên không có cơ sở xác định giá trị pháp lý phần đất còn lại của GCN.QSDĐ cấp năm 1991 do ông Dương Bá Đ1.
Tòa án cấp sơ thẩm đã có Công văn số 1198/TA-DS ngày 05/12/2022 và số 99/TA-DS ngày 14/02/2023 (nhắc lại lần 2) gửi UBND huyện C về việc yêu cầu cung cấp thông tin liên quan việc cấp giấy chứng nhận chứng nhận cho ông Y ngày 08/01/2010 thuộc tờ bản đồ số 82, thửa đất số 346 tọa lạc tại xã B có giá trị pháp lý không? Nhưng không được UBND huyện C phúc đáp. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã có yêu cầu các cơ quan liên quan (Văn phòng Đ2 chi nhánh C1, Sở T, Chi cục Công nghệ thông tin và Dữ liệu tài nguyên môi trường phía C3) trích lục hồ sơ gốc khi cấp GCN.QSDĐ lần đầu diện tích 23.461m² năm 2010 nhưng không có kết quả.
Nên căn cứ các GCN.QSDĐ do UBND huyện C đã cấp năm 2007 cho ông Dương Văn T3 và bà Trần Thị T7; ông Dương Bá T2 và bà Trương Thị N; ông Dương Hồng K và bà Lê Thị N1; ông Dương Văn T3 và bà Trần Thị T6; ông Dương Công D1 và bà Nguyễn Thị P đều thể hiện nguồn gốc sử dụng đất là nhận quyền sử dụng đất do tặng cho quyền sử dụng đất.
Căn cứ nội dung GCN.QSDĐ số 02984Bf do UBND huyện C cấp ngày 08/01/2010 cho ông Y, bà V là cấp lần đầu có diện tích 23.461m² ghi nhận nguồn gốc sử dụng: Nhà nước công nhận QSDĐ như nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất. Đối chiếu khoản 3 Điều 4 Luật Đất đai 2003: Nhà nước công nhận quyền
11
sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định là việc Nhà nước cấp GCN.QSDĐ lần đầu cho người đó.
Do đó, việc ông Y khai được cha mẹ tặng cho cùng thời điểm với các anh em năm 2007, 2008 diện tích khoảng 12.000m² để được UBND huyện C cấp GCN.QSDĐ ngày 08/01/2010 là không có căn cứ, không đúng theo quy định của luật đất đai; đồng thời không được bà Đ và tất cả các anh em khác thừa nhận.
Ông Y, bà D cho rằng có nhận chuyển nhượng lại của ông T2 diện tích đất khoảng 6.500m² (do ông T2 đã nhận chuyển nhượng từ ông P1 năm 1998) và được ông T2 thừa nhận xác định không tranh chấp. Nhưng căn cứ biên lai thu thuế ông T2 đóng năm 1998 thể hiện diện tích 6.484m² và tại phiên tòa ông L1 đại diện cho ông Y, bà D xác định đây đúng là diện tích đất đã nhận chuyển nhượng từ ông T2 trước đó. Bà L đại diện cho bà Đ cho rằng diện tích đất này là cha Đương nhận chuyển nhượng từ ông P1 nhờ ông T2 đứng tên giúp và sau này bán cho ông Y nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định diện tích 6.484m² nằm trong quyền sử dụng đất 18.588m² đang tranh chấp là thuộc quyền sử dụng của ông Đ1, bà Đ. Vì vậy, cần xác định phần diện tích 6.484m² thuộc quyền sử dụng của ông Y, bà D do đã nhận chuyển nhượng từ ông T2.
Do đó, phần đất thuộc quyền sử dụng của ông Đ1, bà Đ còn lại là 18.588m² – 6.484m² = 12.104m².
Ngoài ra, chính tất cả các anh em đều cho rằng ông Y là út nên ở cùng cha mẹ và được chia phần đất nhiều hơn, cụ thể ông L5 cho rằng phần của ông Y là hơn 3 công, các người con khác cho rằng sau khi cha Đương chia phần đất cho 07 người con trai còn lại 1 phần đất làm hương hỏa; bà Đ có ý kiến cho rằng đã chia cho Y khoảng 05 công đất ở xã B, huyện C nhưng cũng không cung cấp chứng cứ; ông T3 (sinh năm 1967) có ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm ngày 19/9/2022 cho rằng ông Đ1 chia ông Y phần đất ở B là từ phần đất của ông nhận chuyển nhượng người khác vì khó khăn nên phải bán lại và cha Đương bỏ tiền ra mua để cho Y canh tác và Y đã bán cho người khác, nhưng không cung cấp được chứng cứ liên quan.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các đương sự đều thống nhất: Ông Đ1 và bà Đ đã có phân chia đất tặng cho 07 người con trai, trong đó có ông Y là con út sống cùng ông Đ1, bà Đ nên được chia phần nhiều hơn; chính bà Đ cho rằng phần ông Y khoảng 05 công đất 2L và cho rằng vị trí đất ở xã B nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh ông Đ1, bà Đ có phần đất thuộc quyền sử dụng của ông bà ở xã B để tặng cho ông Y và ông Y đã chuyển nhượng phần đất này cho người khác. Ông Y cũng như ông L1 người đại diện ủy quyền của ông Y đều xác định không được cha mẹ tặng cho phần đất nào ở xã B, chỉ có phần đất hơn 12.000m² ở xã B như các anh em khác, nhưng ông Y cũng không cung cấp được chứng cứ. Như vậy, xác định ông Y cũng đã được ông Đ1, bà Đ tặng cho một diện tích đất cùng thời điểm với các anh em trai khác, theo lời thừa nhận bà Đ là 5.000m². Do đó, Tòa sơ thẩm xác định trong tổng số diện tích đất 12.104m² còn lại của ông Đ1, bà Đ trong quyền sử dụng đất 18.588m² đang có tranh chấp, đã có tặng cho ông Y 5.000m² đất nên còn lại diện tích đất 7.104m²
12
xác định đây là tài sản chung của bà Đ và ông Đ1, mỗi người được quyền sử dụng 7.104m²/2 = 3.552m². Phần diện tích đất 11.484m² trong GCN.QSDĐ diện tích 18.588m² đang tranh chấp là thuộc quyền sử dụng của ông Y, bà D (đã nhận chuyển nhượng từ ông T2 6.484m² và được bà Đ, ông Đ1 tặng cho 5.000m²).
Hiện phần đất tranh chấp diện tích 18.588m² do ông Y, bà D đứng tên đồng thời bà Đ sinh năm 1935 nay đã 88 tuổi không thể trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp trồng lúa và ông Y, bà D là người trực tiếp quản lý canh tác phần đất này (đất 2L) từ trước đến nay và xác định phần diện tích đất ông Y, bà D được quyền sử dụng là 11.484m²; Phần diện tích 7.104m² thuộc quyền sử dụng của ông Đ1 và bà Đ. Do đó, không cần hủy GCN.QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 669569 (số vào sổ: CS05908) ngày 10/01/2017 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Dương Hữu Y, bà Đặng Thị V diện tích 18.588m², mà cần ổn định cho ông Y, bà D được quyền tiếp tục quản lý và sử dụng quyền sử dụng và buộc ông Y, bà D phải hoàn lại giá trị cho bà Đ phần diện tích đất thuộc quyền sử dụng của bà Đ là 3.552m² (tài sản chung của ông Đ1 và bà Đ là 7.104m²/2 = 3.552m²).
Theo kết quả chứng thư thẩm định giá của Công ty Cổ phần T8, có giá 195.710đ/m², giá trị diện tích đất 3.552m² là 3.552m² x 195.710đ/m² = 695.161.920 đồng.
Do ông Đ1 đã chết năm 2019 nên đối với phần diện tích đất 3.552m² thuộc quyền sử dụng đất phần của ông Đ1 được xác định là di sản thừa kế của ông Đ1. Hiện các đương sự không có yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Đ1 trong vụ án này nên tạm giao cho ông Y, bà D tiếp tục quản lý diện tích đất 3.552m² – di sản thừa kế của ông Đ1 chưa chia. Nếu các đương sự có tranh chấp yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Đương thì được giải quyết bằng vụ án khác.
[3] Về chi phí tố tụng:
Do yêu cầu khởi kiện của bà Đ được chấp nhận một phần, đồng thời bà Đ là người cao tuổi và là mẹ ruột của ông Y nên Tòa sơ thẩm buộc ông Y, bà D có trách nhiệm hoàn lại cho bà Đ số tiền chi phí tố tụng đã nộp là 14.291.800 đồng (mười bốn triệu, hai trăm chín mươi mốt nghìn, tám trăm đồng) gồm chi phí đo đạc 2.791.800 đồng theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 0006421 ngày 11/8/2020 của Văn phòng Đ2 - Chi nhánh C1; chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: 11.500.000 đồng là hợp lý và đúng quy định tại các Điều 157, 158, 165, 166 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của bà Đ được chấp nhận một phần nên bà Đ phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án (gọi tắt là: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14); Song do bà Đ là người cao tuổi và bà Đ có đơn xin miễn án phí nên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 và
13
Điều 14, 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, Tòa sơ thẩm miễn án phí cho bà Đ là đúng.
Ông Y, bà D có trách nhiệm liên đới hoàn trả giá trị 3.552m² đất cho bà Đ theo đơn giá 195.710đ/m² bằng số tiền 695.161.920 đồng nên theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, Tòa sơ thẩm căn cứ vào điểm c tiểu mục 1.3 mục 1 Phần II Danh mục Án phí, lệ phí Tòa án (Kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14) tính án phí để buộc ông Y bà D liên đới nộp cụ thể {20.000.000 đồng + (295.161.920 đồng x 4%)}= 31.806.477đồng (ba mươi mốt triệu, tám trăm lẻ sáu nghìn, bốn trăm bảy mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm là đúng quy định.
[5] Từ những phân tích nhận định trên Tòa sơ thẩm xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hà Thị Đ.
- - Buộc ông Y và bà D có trách nhiệm liên đới trả cho bà Hà Thị Đ giá trị phần diện tích đất 3.552m² thuộc quyền sử dụng của bà Đ là 695.161.920 đồng (sáu trăm chín mươi lăm triệu, một trăm sáu mươi mốt nghìn, chín trăm hai mươi đồng).
- - Ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị D (Đặng Thị V) được quyền tiếp tục quản lý và sử dụng quyền sử dụng đất có tổng diện tích đất 18.588m² theo GCN.QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 669569 (số vào sổ: CS05908) ngày 10/01/2017 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Dương Hữu Y, bà Đặng Thị V, trong đó thuộc quyền sử dụng của ông Y và bà D có diện tích 15.036m² và ông Y bà D tạm tiếp tục quản lý diện tích 3.552m² là phần di sản thừa kế của ông Dương Bá Đ1 chưa phân chia.
- - Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Đ đối với ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị D (Đặng Thị V) về việc buộc ông Y, bà D trả lại cho bà diện tích đất 15.036m² và yêu cầu hủy GCN.QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 669569 (số vào sổ: CS05908) ngày 10/01/2017 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Dương Hữu Y, bà Đặng Thị V diện tích 18.588m².
- - Miễn án phí dân sự cho bà Đ, đồng thời buộc ông Y bà D chịu chi phí tố tụng và án phí dân sựu sơ thẩm.
Các quyết định trên của Tòa sơ thẩm là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm không có căn cứ nào mới nên Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bà Đ; ông Y và bà V (D), giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên căn cứ khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 bà Đ; ông Y, bà D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm mỗi người là 300.000 đồng, nhưng do bà Đ là người cao tuổi có đơn xin miễn nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 các Điều 14, 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHH14 Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự phúc thẩm đối với bà Đ. Phần án phí của ông Y, bà D được khấu trừ vào tiền tam ứng án phí đã nộp theo
14
các Biên lai thu số 0000402 và 0000403 nộp cùng ngày 08/9/2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang nên ông Y, bà D không phải nộp thêm.
[7] Quyết định khác của án sơ thẩm liên quan đến Ngân hàng TMCP N2 - Chi nhánh A - Phòng G không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 308; Khoản 9 Điều 26; Điều 34, Điều 37; khoản 1 Điều 147; Các Điều 148, 157, 158, 165, 166, 273, 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Khoản 3 Điều 4, Điều 31, Điều 33, Điều 50 Luật đất đai năm 2003;
- - Khoản 1 và khoản 5 Điều 166, khoản 3 Điều 191, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
- - Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15, khoản 1 và khoản 4 Điều 26, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Hà Thị Đ; ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị D (Đặng Thị V); giữ nguyên bản án sơ thẩm số 69/2023/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Đ đối với ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị D (Đặng Thị V).
- Buộc ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị D (Đặng Thị V) có trách nhiệm liên đới trả cho bà Hà Thị Đ giá trị phần diện tích đất 3.552m² thuộc quyền sử dụng của bà Hà Thị Đ với số tiền là 695.161.920đồng (sáu trăm chín mươi lăm triệu, một trăm sáu mươi mốt nghìn, chín trăm hai mươi đồng).
- Ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị D (Đặng Thị V) được quyền tiếp tục quản lý và sử dụng thửa đất số 346, tờ bản đồ số 82 diện tích đất 18.588m² đất chuyên trồng lúa nước tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 669569 (số vào sổ: CS05908) ngày 10/01/2017 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Dương Hữu Y, bà Đặng Thị V, trong đó thuộc quyền sử dụng của ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị D có diện tích 15.036m² và tạm giao ông Y, bà D tiếp tục quản lý diện tích 3.552m² là phần di sản thừa kế của ông Dương Bá Đ1 chưa phân chia.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Đ đối với ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị D (Đặng Thị V) về việc buộc ông Y, bà D trả lại cho bà Đ diện tích đất 15.036m² và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng
15
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 669569 (số vào sổ: CS05908) ngày 10/01/2017 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Dương Hữu Y, bà Đặng Thị V diện tích 18.588m².
- Về chi phí tố tụng: ông Dương Hữu Y và bà Đặng Thị D (Đặng Thị V) có trách nhiệm hoàn lại cho bà Hà Thị Đ số tiền chi phí tố tụng đã nộp là 14.291.800 đồng (mười bốn triệu, hai trăm chín mươi mốt nghìn, tám trăm đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Hoàn trả lại cho bà Hà Thị Đ số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0006424 ngày 28/4/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Phú.
- - Ông Dương Hữu Y và bà bà Đặng Thị D (Đặng Thị V) có trách nhiệm liên đới nộp số tiền 31.806.477đồng (ba mươi mốt triệu, tám trăm lẻ sáu nghìn, bốn trăm bảy mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
- - Ông Dương Hữu Y, bà Đặng Thị D (Đặng Thị V) mỗi người phải chịu 300.000 đồng được khấu trừ vào tiền tam ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0000402 và 0000403 nộp cùng ngày 08/9/2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang nên ông Y, bà D không phải nộp thêm.
- - Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Hà Thị Đ.
- Quyết định khác của án sơ thẩm liên quan đến Ngân hàng TMCP N2 - Chi nhánh A - Phòng G không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Tửu |
16
17
Bản án số 853/2023/DS-PT ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp qsdđ; yêu cầu hủy gcn.qsdđ
- Số bản án: 853/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp QSDĐ; yêu cầu hủy GCN.QSDĐ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
