Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 852/2023/DS-PT

Ngày: 21/12/2023

V/v “Tranh chấp về QSH tài sản; T/c về thừa kế"

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Chánh Trung

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa

Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Đức Thiện, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Hưng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 640/2022/TLPT-DS ngày 13 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp về QSH tài sản; Tranh chấp về thừa kế”.

1/ Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Tuyết D, sinh năm 1952; địa chỉ: Căn hộ B, Chung cư S, số A đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Đào Vũ Tuyết A, sinh năm 1982; địa chỉ: Căn hộ B, Chung cư S, số A đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền lập ngày 15/7/2019 tại Văn phòng C) (có mặt); hoặc Ông Phan Viết L, sinh năm 1976; địa chỉ: H chung cư T đường K, phường T, quận C, thành phố Hà Nội (Giấy ủy quyền lập ngày 15/7/2019 tại Văn phòng C); (vắng mặt)

2/ Bị đơn:

2.1/ Bà Lương Thị Trúc Đ, sinh năm 1955; (vắng mặt)

2.1/ Bà Vũ Thị Trúc P, sinh năm 1976; (có mặt)

2.3/ Bà Vũ Thị Trúc M, sinh năm 1977; (có mặt)

Cùng địa chỉ: số F (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;

Bà Đ, bà P và bà M cùng ủy quyền cho ông Dương Quốc H sinh năm 2000 tham gia tố tụng; Địa chỉ: số D đường T, khu trung tâm hành chính D, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Giấy ủy quyền lập ngày 24/02/2023 tại Văn phòng C1); (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Đỗ Văn M1 thuộc Công ty L2 – Đoàn luật sư tỉnh B; Địa chỉ: số D đường T, khu trung tâm hành chính D, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (có đơn xin vắng mặt)

3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1/ Bà Vũ Thị Tuyết H1, sinh năm 1947; địa chỉ: A Ailée Du Bsis D Evry C, F; (vắng mặt)

3.2/ Bà Vũ Thị Tuyết M2, sinh năm 1949; địa chỉ: A Square D, I Evry C, F; (vắng mặt)

Bà H1 và bà M2 cùng ủy quyền cho Bà Đào Vũ Tuyết A, sinh năm 1982; tham gia tố tụng (Giấy ủy quyền lập ngày 16/12/2019 tại Văn phòng C); (có mặt)

3.3/ Văn phòng C2; địa chỉ: A đường X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trương Lý T; sinh năm: 1994; địa chỉ: xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; (Giấy ủy quyền lập ngày 10/4/2023); (có đơn xin vắng mặt)

3.4/ Ủy ban nhân dân Quận A2, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ: 4 đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Ngô Thị Kim L1; sinh năm: 1968; địa chỉ: B đường N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt)

3.5/ Em Võ Bá Khánh T1; sinh năm: 2005; địa chỉ: F (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị Trúc P; (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn- bà Vũ Thị Tuyết D do bà Đào Vũ Tuyết A đại điện theo ủy quyền trình bày: Bà Vũ Thị H2 là chủ sở hữu nhà đất tại địa chỉ số F (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 2436 do Ủy ban nhân dân Quận A2, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà H2 ngày 10 tháng 10 năm 2011). Năm 2016, bà H2 qua đời không để lại di chúc, bà H2 không có chồng con và hàng thừa kế thứ nhất của bà H2 không còn gồm: cha là Vũ Công K (1910-1977), mẹ là Nguyễn Thị S (1922-1995). Hàng thừa kế thứ 2 của bà H2 gồm: Vũ Thị Tuyết H1, Vũ Thị Tuyết M2, Vũ Thị Tuyết D và Vũ Công P1. Tháng 3 năm 2019, ông Vũ Công P1 qua đời. Hàng thừa kế thứ nhất của ông P1 là bà Lương Thị Trúc Đ, Vũ Thị Trúc P, Vũ Thị Trúc M đã tiến hành khai nhận di sản thừa kế cố ý bỏ sót những người thuộc hàng thừa kế thứ hai của bà H2. Hiện tại bị đơn đang ở, quản lý và sử dụng căn nhà số F (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Toàn bộ giấy tờ nhà đất nêu trên do bị đơn đang giữ.

Nguyên đơn yêu cầu Tòa án phân chia di sản do bà Vũ Thị H2 để lại là toàn bộ nhà đất số F (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo pháp luật.

Nguyên đơn không đồng ý yêu cầu phản tố của bị đơn bởi các lý do sau:

- Căn nhà trên trước giải phóng do ông Lê Ngọc H3 sử dụng. Năm 1971, ông H3 đi T có ủy quyền lại cho ông Vũ Công K và vợ con tiếp tục sử dụng làm nhà ở. Sau khi giải phóng, nhà thuộc diện cải tạo nhà đất cho thuê do nhà nước quản lý. Năm 1977, ông Vũ Công K qua đời. Ngày 20/8/1993, bà Nguyễn Thị S (Vợ ông K) đã ký hợp đồng thuê nhà với Xí nghiệp Q. Ngày 03/11/1993, bà Nguyễn Thị S qua đời. Ngày 12/10/1996, ông Vũ Công P1 đã làm giấy ủy quyền để chị ruột là bà Vũ Thị H2 thay mặt gia đình đứng tên làm hồ sơ xin đổi tên trong hợp đồng thuê nhà. Ngày 25/3/1998 bà P, bà M và bà Đ đã làm cam kết cho bà H2 đứng tên hóa giá nhà đất nêu trên. Ngày 26/3/1998, ông P1 đã làm giấy cam kết đồng ý để bà H2 thay mặt gia đình đứng tên làm hồ sơ xin hóa giá căn nhà, và ngày 22/11/2001 thì bà H2 đã làm đơn xin mua hóa giá nhà của nhà nước. Ngày 13/9/2011, Công ty Q1 có biên bản thanh lý Hợp đồng thuê nhà và ký hợp đồng mua bán nhà với bà H2. Ngày 12/9/2011, Ủy ban nhân dân Quận L3 cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở cho bà Vũ Thị H2 là đúng quy định của pháp luật.

- Bà Vũ Thị Tuyết H1, bà Vũ Thị Tuyết M2 có gửi tiền về cho bà H2 mua hóa giá nhà trên. Tuy nhiên, nguyên đơn không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc gửi tiền.

Nguyên đơn đề nghị tòa án:

- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

- Hủy văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày 23/5/2019, số công chứng 14172 tại Văn phòng C2.

- Chia di sản thừa kế của bà H2 là toàn bộ nhà đất số F (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo pháp luật. Bà D đề nghị được sở hữu nhà đất nêu trên và hoàn lại phần thừa kế theo pháp luật cho bà H1, bà M2, bà Đ, bà P, bà M.

Nguyên đơn thống nhất với kết quả thẩm định giá tài sản nhà đất số F (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo chứng thư thẩm định giá số A.499/20/SaigonPA/HS lập ngày 30/12/2020 của Công ty T2. Đối với chi phí thẩm định giá yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

* Bị đơn do bà Vũ Thị Trúc P đại diện trình bày: Nguyên nhà đất số F (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh có nguồn gốc thuộc sở hữu Nhà nước. Trước năm 1998, cùng sinh sống trên ngôi nhà có bà nội tôi Nguyễn Thị S, cô tôi là Vũ Thị H2 (không có chồng con), cha tôi Vũ Công P1, mẹ tôi Lương Thị Trúc Đ và 2 chị em tôi là Vũ Thị Trúc P, Vũ Thị Trúc M. Mẹ tôi từ khi kết hôn với ba tôi đã về sống trong căn hộ trên và chúng tôi cũng được sinh ra và lớn lên tại căn nhà này từ nhỏ đến bây giờ.

Sau khi bà S mất, Nhà nước thông báo bán hóa giá căn nhà trên, những người được ưu tiên mua nhà là những người có hộ khẩu và sống trong nhà. Vì bà H2 là chị lớn, không có chồng, sống cùng trong một nhà và cha tôi - ông P1 là người kỹ lưỡng, sống có trên dưới, trước sau nên khi Nhà nước hóa giá nhà, cha mẹ tôi đã tôn trọng đồng ý để bà H2 đại diện gia đình đứng tên làm thủ tục hóa giá, ông P1 đã lập một tờ cam kết vào ngày 26/3/1998 có xác nhận của UBND phường có nội dung: “đồng ý cho chị là Vũ Thị H2 ở cùng hộ khẩu được thay mặt gia đình đứng tên làm hồ sơ xin hóa giá nhà ở F N. Nếu sau này có điều gì thay đổi khác với nội dung như trên thì cần phải có sự thống nhất ý kiến để đảm bảo quyền lợi chung trong gia đình gồm có tên: Vũ Thị H2, Vũ Công P1, Lương Thị Trúc Đ, Vũ Thị Trúc P, Vũ Thị Trúc M”. Sau khi bà H2 đại diện gia đình đứng tên làm thủ tục hóa giá nhà, nhằm để đảm bảo quyền lợi cho chúng tôi về sau thì ngày 23/6/2004 bà H2 đã lập Giấy xác nhận về việc tiền đóng góp mua nhà F N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung: “Tôi xác nhận số tiền đã nộp trên và tiếp tục tiền mua căn nhà F N, Phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh sau này là tiền đóng góp chung của gia đình gồm Vũ Thị H2, Vũ Công P1, Lương Thị Trúc Đ, Vũ Thị Trúc P và Vũ Thị Trúc M”, Giấy xác nhận này được lưu giữ tại hồ sơ mua nhà của Công ty TNHH Một thành viên D1.

Thực hiện Công văn 9143/VBND-ĐTMT ngày 27/12/2007 về giá bán nhà, đất theo Nghị định số 61/CP của Chính Phủ đối với nhà ở riêng lẻ có khả năng sinh lợi cao tại vị trí mặt đường, mặt phố, đến năm 2011, Nhà nước lại thông báo yêu cầu bà H2 và gia đình tôi nộp thêm tiền mua nhà. Lúc này để đảm bảo quyền lợi cho các thành viên trong gia đình về sau, vào ngày 26/05/2011, cha tôi Vũ Công P1 đã làm đơn kiến nghị gửi Ủy ban nhân dân Quận A2Công ty TNHH Một thành viên D1 đề nghị bổ sung tên của cha mẹ và chị em tôi vào Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với căn nhà số F. Ngày 06/7/2011, 05 thành viên gia đình gồm cô H2, cha, mẹ và 2 chị em tôi đã lập giấy thỏa thuận đồng ý cùng đứng tên đồng sở hữu trong việc cấp chủ quyền.

Ngày 25/7/2011, Công ty TNHH Một thành viên D1 có mời 05 thành viên gia đình tôi làm việc để trao đổi việc điều chỉnh hồ sơ mua nhà theo Nghị định 61/CP. Tại Biên bản lập ngày 25/7/2011 của Công ty TNHH Một thành viên D1. Công ty thông báo cô H2 và gia đinh tôi phải nộp thêm tiền theo Nghị định số 61/CP của Chính Phủ đối với nhà ở riêng lẻ có khả năng sinh lợi cao tại vị trí mặt đường, mặt phố thì bà H2 đã ý kiến: “Nếu chỉnh lại giá bán căn nhà trên thì cô H2 không có tiền đóng” ý kiến của ba tôi ông Vũ Công P1 là “Tôi đồng ý đứng tên đồng sở hữu 5 người như thỏa thuận trước đây. Tuy nhiên nếu phát sinh đóng bổ sung thêm các khoản chi phí theo quy định, gia đình sẽ thực hiện đóng bổ sung và đề nghị Công ty có thông báo rõ số tiền cần đóng bổ sung”. Các thành viên còn lại đều thống nhất ý kiến của ông P1.

Do đây là quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất chung đối với căn nhà số F (phía trước) đường N, Phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên dù cô tôi là bà Vũ Thị H2 không có tiền đóng thì cha mẹ và chị em tôi cũng đứng ra để đóng số tiền cần đóng bổ sung.

Tại Giấy thỏa thuận do các thành viên trong gia đình tự nguyện lập vào ngày 27/07/2011 và Vi bằng số 363/2011/VB-TPLTB tại Văn phòng thừa phát lại quận T có nội dung: “Sau khi chúng tôi gồm 05 người cùng đóng góp tiền để mua căn nhà số F (phía trước), đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Nghị định 61/CP và đã thanh toán đầy đủ cho Công ty TNHH Một thành viên D1. Chúng tôi đồng ý để cho bà Vũ Thị H2 đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với căn nhà nêu trên. Tuy nhiên, ngay sau khi bà H2 được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất của căn nhà số F thì bà H2 phải cam kết làm thủ tục để cho những người nêu trên cùng đứng tên theo quy định của pháp luật”. Vi bằng này được Thừa phát lại cam kết ghi nhận trung thực, khách quan sự kiện, hành vi nêu trong vi bằng, có đầy đủ chữ ký, chữ viết tên dưới chữ ký, lăn tay của cô H2, cha mẹ và 2 chị em tôi và Vi bằng đã được đăng ký tại Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, ngày 03/5/2016 cô H2 mất không để lại di chúc và ngày 28/3/2019 ông P1 mất.

H2 không có chồng con, từ trước đến khi mất bà sống cùng gia đình tôi, cha mẹ chị em tôi đều rất yêu thương, kính trọng, chăm sóc bà H2, điều kiện kinh tế bà H2 khó khăn, không có tiền để đóng góp nộp tiền hóa giá nhà cho Nhà nước thì cha mẹ và chị em tôi là người bỏ tiền ra đóng góp nhưng vẫn ghi là cùng đóng góp chung, vẫn để bà H2 đại diện đứng tên, chúng tôi và bà H2 sống tình cảm, yêu thương, tôn trọng nhau. Vậy mà khi bà H2 mất và cha tôi ông P1 vừa mất vào cuối tháng 3/2019 thì bà Vũ Thị Tuyết D đã ngay lập tức khởi kiện đòi phần thừa kế của bà H2. Trước đây, bà D ở sát nhà chúng tôi, bà D cũng được mua hóa giá nhà nhưng sau đó bán đi. Căn nhà 63 (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A là tài sản chung của bà Vũ Thị H2, ông Vũ Công P1, bà Lương Thị Trúc Đ, Vũ Thị Trúc P, Vũ Thị Trúc M. Tuy nhiên, tại Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 157509, số vào sổ cấp GCN: CH 2436 ngày 10 tháng 10 năm 2011 do A2 cấp thì chỉ có một mình bà Vũ Thị H2 đứng tên. Do đó, bị đơn có yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 157509, số vào sổ cấp GCN: CH 2436 ngày 10 tháng 10 năm 2011 do A2 cấp cho bà Vũ Thị H2 và Công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại số F (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản chung của các ông, bà: Vũ Thị H2, Vũ Công P1, Lương Thị Trúc Đ, Vũ Thị Trúc P, Vũ Thị Trúc M.

Phía bị đơn đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày 23/5/2019, số công chứng 14172 tại Văn phòng C2.

D khởi kiện đòi được chia 1/4 căn nhà là hoàn toàn không đúng pháp luật và trái đạo đức, chúng tôi không đồng ý. Bị đơn chỉ chấp nhận chia di sản thừa kế của bà H2 là 1/5 giá trị nhà đất số F (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (không phải toàn bộ giá trị nhà đất) theo pháp luật cho những người thừa kế gồm: bà D, bà M2, bà H1, vợ con ông P1 gồm: bà Đ, bà P, bà M được hưởng phần thừa kế của ông P1 theo quy định pháp luật). Từ nhỏ bà nội, cô H2, cha mẹ, chị em tôi được sinh ra và lớn lên trên chính ngôi nhà này, đây là nơi thờ cúng tổ tiên. Ngoài căn nhà này chúng tôi không còn nơi ở nào khác. Do đó, Bị đơn yêu cầu được sở hữu nhà đất nêu trên và hoàn lại phần thừa kế theo giá trị cho bà D, bà H1 và bà M2.

Bị đơn thống nhất với kết quả thẩm định giá tài sản theo chứng thư thẩm định giá số A.499/20/SaigonPA/HS lập ngày 30/12/2020 của Công ty T2. Bị đơn đồng ý chịu chi phí thẩm định giá theo quy định pháp luật. Hiện tại bị đơn và hai trẻ Võ Bá Khánh T1Quảng Vũ L đang thực tế cư trú tại căn nhà trên.

* Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị Tuyết M2, Vũ Thị Tuyết H1 có bà Đào Vũ Tuyết A là đại diện theo ủy quyền trình bày: Thống nhất với lời trình bày của phía nguyên đơn.

* Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Võ Bá Khánh T1 có bà Vũ Thị Trúc P là đại diện theo pháp luật trình bày: Thống nhất với lời trình của bà Vũ Thị Trúc P đã nêu ở trên.

* Người đại diện theo ủy quyền của Văn phòng công chứng Bình Thạnh Thành phố C2 - ông Trương Lý T trình bày: Theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng về việc tiến hành khai di sản thừa kế của bà Vũ Thị H2, ông Vũ Công P1 chết để lại, sau khi xem xét hồ sơ mà người yêu cầu công chứng cung cấp, Văn phòng C2 đã tiến hành nhận hồ sơ để giải quyết. Trong quá trình tiến hành thủ tục khai di sản thừa kế nêu trên, công chứng viên đã thực hiện đúng và đầy đủ các trình tự, thủ tục theo quy định, xác định người tham gia thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là đúng người, đủ năng lực hành vi dân sự, đối tượng của di sản để lại là có thật, thuộc chủ quyền hợp pháp của người để lại di sản. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ kiện theo quy định pháp luật. Ông T xin vắng mặt tại các phiên hòa giải và xét xử của Tòa án.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân Quận A2, Thành phố Hồ Chí Minh - bà Ngô Thị Kim L1 trình bày: Sau khi kiểm tra hồ sơ pháp lý và căn cứ quy định pháp luật; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số BE157509, số vào sổ cấp GCN: CH2436 ngày 10/10/2011 do Ủy ban nhân dân Quận A2 cấp cho bà Vũ Thị H2 đối với căn nhà 63 (phía trước) đường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là đúng pháp luật. Bà L1 yêu cầu được vắng mặt trong các phiên hòa giải và xét xử của Tòa án.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 958/2022/DS-ST ngày 29/6/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Căn cứ vào Khoản 3, Khoản 5, Khoản 11 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 37; Khoản 4 Điều 34; khoản 1, khoản 2 Điều 147; Điều 165; Điều 228; Khoản 25 Điều 244; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 633, Điều 634, Điều 635, điểm a Khoản 1 Điều 674, Điều 676 của Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ vào Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ;

Căn cứ vào Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội nước C3 ngày 30/12/2016 hướng dẫn về án phí, lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

1/ Đình chỉ xét xử yêu cầu phản tố của bị đơn về yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 157509, số vào sổ cấp GCN: CH 2436 do A2 cấp ngày 10 tháng 10 năm 2011 cho bà Vũ Thị H2.

2/ Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc hủy Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày 23/5/2019, số công chứng 14172 tại Văn phòng C2.

3/ Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản gắn liền với đất đối với nhà đất tọa lạc tại số F (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản chung của các ông, bà: Vũ Thị H2, Vũ Công P1, Lương Thị Trúc Đ, Vũ Thị Trúc P, Vũ Thị Trúc M.

4/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị Tuyết D đối với yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Vũ Thị H2.

4.1/ Xác định di sản thừa kế của bà Vũ Thị H2 là 1/5 giá trị nhà đất số F (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

4.2/ Xác định hàng thừa kế thứ hai của bà Vũ Thị H2 gồm: bà Vũ Thị Tuyết H1, bà Vũ Thị Tuyết M2, bà Vũ Thị Tuyết D và ông Vũ Công P1.

4.3/ Di sản thừa kế của bà Vũ Thị H2 được chia cụ thể như sau:

- Bà Vũ Thị Tuyết H1, bà Vũ Thị Tuyết M2, bà Vũ Thị Tuyết D mỗi người được hưởng là 1/20 (tương đương 3/60) giá trị nhà đất số F (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bà Lương Thị Trúc Đ, Vũ Thị Trúc P, Vũ Thị Trúc M mỗi người được hưởng 1/60 giá trị nhà đất số F (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

4.4/ Ông Vũ Công P1, bà Lương Thị Trúc Đ, Vũ Thị Trúc P, Vũ Thị Trúc M được sở hữu toàn bộ nhà đất số F (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lương Thị Trúc Đ, Vũ Thị Trúc P, Vũ Thị Trúc M có nghĩa vụ liên đới thanh toán lại cho bà Vũ Thị Tuyết H1, bà Vũ Thị Tuyết M2, bà Vũ Thị Tuyết D phần giá trị di sản thừa kế của mỗi người là 1/20 giá trị nhà đất nêu trên.

Sau khi bà Lương Thị Trúc Đ, bà Vũ Thị Trúc P, bà Vũ Thị Trúc M thanh toán xong phần thừa kế cho bà Vũ Thị Tuyết D, bà Vũ Thị Tuyết M2 và bà Vũ Thị Tuyết H1 như trên thì bà Lương Thị Trúc Đ, bà Vũ Thị Trúc P, bà Vũ Thị Trúc M được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục sang tên quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở và các tài sản gắn liền với đất đối với nhà đất số F (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Vũ Công P1, bà Lương Thị Trúc Đ, bà Vũ Thị Trúc P và bà Vũ Thị Trúc M.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng, quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo, kháng nghị theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/7/2022, bà Đào Vũ Tuyết A cho rằng bà đại diện cho các bà Vũ Thị Tuyết D (nguyên đơn trong vụ án), bà Vũ Thị Tuyết H1, bà Vũ Thị Tuyết M2 (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án) kháng cáo không đồng ý toàn bộ bản án sơ thẩm, nhưng tòa án cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận cho bà A đại diện cho bà Vũ Thị Tuyết D kháng cáo, còn lại thì không chấp nhận việc bà A đại diện cho bà Vũ Thị Tuyết H1, bà Vũ Thị Tuyết M2 kháng cáo. Nên bà A có khiếu nại về thủ tục kháng cáo, chưa được tòa án cấp phúc thẩm xem xét, nên phiên tòa ngày 08/6/2023 được hoãn lại chờ xem xét thủ tục kháng cáo. Ngày 10/10/2023, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quyết định giải quyết khiếu nại số 155/2023/QĐ-GQKN, chấp nhận cho bà Vũ Thị Tuyết A1 với tư cách đại diện cho cả bà H1 và bà M2 kháng cáo.

- Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Đào Vũ Tuyết A thay đổi nội dung kháng cáo, yêu cầu công nhận căn nhà số F (phía trước) đường N là tài sản chung của bà Vũ Thị H2 và ông Vũ Công P1 để lại, chứ không có phần của bà Lương Thị Trúc Đ, Vũ Thị Trúc P, Vũ Thị Trúc M.

- Đối với các bị đơn thì không có kháng cáo, tại phiên tòa phúc thẩm thì ông Dương Quốc H đại diện cho các bị đơn đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà D, bà H1, bà M2 do bà Đào Vũ Tuyết A đại diện, và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.

- Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà D, bà H1, bà M2 do bà Đào Vũ Tuyết A đại diện, và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đơn kháng cáo của bà Đào Vũ Tuyết A đại diện cho các bà Vũ Thị Tuyết D (nguyên đơn trong vụ án), bà Vũ Thị Tuyết H1, bà Vũ Thị Tuyết M2 (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án) kháng cáo, được làm và nộp trong thời hạn luật định nên đây là kháng cáo hợp lệ.

[2] Xét về nội dung vụ án thì thấy:

2.1/ Về quan hệ tranh chấp:

- Nguyên đơn bà Vũ Thị Tuyết D khởi kiện yêu cầu xử hủy văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày 23/5/2019, số công chứng 14172 tại Văn phòng C2 đối với toàn bộ căn nhà số F (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Xác định tài sản trên là của riêng bà Vũ Thị H2, yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Vũ Thị H2 để lại. Tại phiên tòa phúc thẩm thì thay đổi lại, yêu cầu xác định là di sản của bà H2, ông P1 để lại.

- Phía bị đơn: bà Lương Thị Trúc Đ, bà Vũ Thị Trúc P, Vũ Thị Trúc M thì có yêu cầu phản tố, yêu cầu xử: hủy GCN QSDĐ, QSH nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BE157509, số vào sổ cấp GCN: CH2436 ngày 10/10/2011, do A2 cấp cho bà Vũ Thị H2; Yêu cầu công nhận QSH nhà ở và QSD đất ở đối với căn nhà trên là tài sản chung của các ông bà gồm: Vũ Thị H2, Vũ Công P1, Lương Thị Trúc Đ, Vũ Thị Trúc P, Vũ Thị Trúc M.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị Tuyết H1, bà Vũ Thị Tuyết M2 thì cho rằng nhà-đất nêu trên do hai bà gửi tiền cho bà H2 để mua để cho bà H2 đứng tên, là tài sản của bà H2. Bà H2 chết vào ngày 03/5/2016 nên nhà đất trên là di sản của bà H2 để lại, nên đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu chia di sản do bà H2 để lại.

2.2/ Xét nội dung, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn, và yêu cầu của bà H1, bà M2 (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án) thì thấy:

2.2.1/ Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị Tuyết D yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày 23/5/2019 tại Văn phòng C2, HĐXX xét thấy: theo văn bản thỏa thuận khai thiếu các thừa kế của bà H2 gồm: bà Vũ Thị Tuyết D, bà Vũ Thị Tuyết H1, bà Vũ Thị Tuyết M2. Tại tòa án cấp sơ thẩm, các đương sự thỏa thuận thống nhất hủy văn bản thỏa thuận phân chia di sản nêu trên, nên án sơ thẩm tuyên: công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, hủy văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày 23/5/2019 tại Văn phòng C2. Phần này không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

2.2.2/ Đối với yêu cầu phản tố của phía bị đơn, có 2 yêu cầu:

+ Một là yêu cầu hủy GCN QSDĐ, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. HĐXX xét thấy: Tại tòa án cấp sơ thẩm, các bị đơn rút lại yêu cầu đòi hủy GCN QSDĐ, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE157509 mà A2 cấp cho bà Vũ Thị H2, nên án sơ thẩm tuyên đình chỉ giải quyết yêu cầu đòi hủy GCN QSDĐ, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nêu trên. Phần này không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

+ Hai là yêu cầu công nhận nhà-đất tại số F (phía trước) đường Nguyễn Văn G là tài sản chung của 05 người gồm: Vũ Thị H2, Vũ Công P1, Lương Thị Trúc Đ, Vũ Thị Trúc P, Vũ Thị Trúc M. HĐXX xét thấy: Căn nhà số F (phía trước) đường N có nguồn gốc là của ông Nguyễn Văn G1 cho ông Lê Ngọc H3 thuê. Năm 1971, ông H3 đi T có ủy quyền cho em là ông Vũ Công K cùng vợ là bà Nguyễn Thị S và các con của ông KS sử dụng căn nhà trên. Năm 1977, ông K chết. Ngày 20/8/1993, Xí nghiệp Q với bà Nguyễn Thị S ký hợp đồng thuê nhà số 8517/T/B/ND đối với toàn bộ căn nhà. Ngày 04/11/1995, bà S chết. Ngày 09/10/1996, bà Vũ Thị H2 (con của bà S) có đơn xin thuê có giấy ủy quyền của ông Vũ Công P1 để cho chị ruột là bà Vũ Thị H2 đứng tên thuê. Ngày 07/5/2001, bà Vũ Thị Tuyết D và bà Vũ Thị H2 lập bản cam kết và nghị tách hợp đồng thuê nhà số 8517/T/B/ND thành 2 hợp đồng thuê nhà riêng biệt, vì 2 diện tích nhà độc lập, thuận lợi cho việc sinh hoạt và đăng ký thủ tục hành chính (H do bà H2 đại diện, trong hộ gồm có 5 người: Vũ Thị H2, Vũ Công P1, Lương Thị Trúc Đ, Vũ Thị Trúc P, Vũ Thị Trúc M); (Hộ 2 do bà Vũ Thị Tuyết D đại diện). Ngày 20/7/2001, Công ty Q1 với bà H2 (do bà H2 đại diện cho hộ) ký hợp đồng số 4257/ND cho bà H2 thuê căn nhà số F (phía trước) đường N nêu trên, kèm theo các bản cam kết của các thành viên trong hộ, gồm có: Vũ Thị H2, Vũ Công P1, Lương Thị Trúc Đ, Vũ Thị Trúc P, Vũ Thị Trúc M. Ngày 09/5/2002, A2 ban hành quyết định số 256/QĐ-UB về việc bán hóa giá nhà thuộc sở hữu nhà nước đối với nhà-đất tại số F (phía trước) đường N cho bà Vũ Thị H2 đại diện đứng tên. Ngày 11/6/2002, A2 với bà H2 ký hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước số 375/2002/HĐ-MBNO.3 đối với nhà-đất nêu trên với giá 194.083.054 đồng. Trong thời gian làm thủ tục cấp GCN QSH nhà ở và QSD đất ở thì các thành viên có tên trong phụ lục của hợp đồng 1 kèm theo hợp đồng thuê nhà số 4257/ND gồm có Vũ Thị H2, Vũ Công P1, Lương Thị Trúc Đ, Vũ Thị Trúc P, Vũ Thị Trúc M lập biên bản ngày 06/7/2011, ngày 25/7/2011, thỏa thuận thống nhất cùng đứng tên đồng sở hữu trong việc cấp GCN QSH nhà ở và QSD đất ở sau khi mua hóa giá nhà. Ngày 27/7/2011 thì bà H2, ông P1, bà Đ, chị P, chị M lập vi bằng số 363/2011/VB-TPLTB, thỏa thuận thống nhất 5 người cùng đóng tiền để mua hóa giá căn nhà, và đồng ý để cho bà H2 đứng tên GCN QSDĐ, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

- Căn cứ vào vi bằng lập ngày 29/7/2011 thì cả 5 người, trong đó có bà H2, đồng ý cho bà H2 đứng tên trên giấy chủ quyền nhà, nên ngày 10/10/2011 A2 cấp GCN QSDĐ, QSH nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BE157509, số vào sổ cấp GCN: CH2436 cấp cho bà Vũ Thị H2.

- Dựa vào các tài liệu về việc U, bán hóa giá nhà, các cam kết của các thành viên trong hộ, cũng như vi bằng lập ngày 27/7/2011 được bà Vũ Thị H2 thừa nhận lúc còn sống, cũng như theo biên bản thỏa thuận giữa 5 thành viên trong gia đình ngày 06/7/2011, cùng thống nhất và đồng ý đứng tên đồng sở hữu trong việc cấp GCN QSDĐ, QSH nhà ở và tài sản gắn liền với đất đã hoàn tất mua nhà hóa giá theo Nghị định 61/CP (BL 210), và biên bản làm việc của Công ty TNHH MTV D1, bà H2 cũng thừa nhận là bà đại diện cho 5 thành viên đứng tên trên GCN QSDĐ, QSH nhà ở và tài sản gắn liền với đất, nếu như chỉnh lại giấy thì bà không có tiền để đóng bổ sung, theo giải thích của Công ty TNHH MTV D1 (BL 212, 213).

- Trên cơ sở nêu trên, án sơ thẩm xác định nhà và đất số 63 (phía trước) đường Nguyễn Văn G thuộc đồng sở hữu của 5 người gồm: Vũ Thị H2, Vũ Công P1, Lương Thị Trúc Đ, Vũ Thị Trúc P, Vũ Thị Trúc M, là có căn cứ.

2.2.3/ Đối với yêu cầu của nguyên đơn bà Vũ Thị Tuyết D cho rằng toàn bộ căn nhà số F (phía trước) đường N là di sản của bà Vũ Thị H2 để lại và yêu cầu chia di sản của bà H2 để lại, HĐXX xét thấy:

- Cha mẹ của bà H2 là ông Vũ Công K (sinh năm 1910, chết năm 1977), bà Nguyễn Thị S (sinh năm 1922, chết năm 1995), chết trước khi bà H2 lập hồ sơ mua hóa giá nhà (mua vào năm 2011). Ngoài ra, bà H2 còn có 04 chị em là Vũ Thị Tuyết H1, sinh năm 1947; Vũ Thị Tuyết M2, sinh năm 1949; Vũ Thị Tuyết D, sinh năm 1952 (là nguyên đơn); và ông Vũ Công P1.

- Bà D kháng cáo cho rằng toàn bộ căn nhà số F (phía trước) đường N là di sản của bà H2 để lại. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Đào Vũ Tuyết A (đại diện cho bà D, bà H1, bà M2) xác định nhà-đất là của bà H2 và ông P1 để lại, chứ không phải là tài sản đồng sở hữu của 5 người (bà H2, ông P1, bà Đ, bà P, bà M), nhưng bà D, cũng như bà A đại diện cho bà D không xuất trình được căn cứ nào khác để chứng minh là tài sản riêng của bà H2, ông P1, nên không có cơ sở để chấp nhận.

- Án sơ thẩm xác định căn nhà số F (phía trước) đường N có giá trị 29.788.831.307 đồng, chia cho 5 người gồm bà H2, ông P1, bà Đ, bà P, bà M là đồng sở hữu, mỗi người được hưởng 1 phần = 5.957.766.200 đồng. Phần di sản của bà Vũ Thị H2 để lại là 1/5 căn nhà nêu trên bằng 5.957.766.200 đồng. Bà H2 chết ngày 03/5/2016, không có di chúc, không có người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, nên các anh chị em ruột của bà H2 thuộc hàng thừa kế thứ hai được hưởng đối với di sản của bà H2 để lại, gồm: Vũ Thị Tuyết H1, sinh năm 1947; Vũ Thị Tuyết M2, sinh năm 1949; Vũ Thị Tuyết D, sinh năm 1952; và ông Vũ Công P1 (ông P1 chết vào năm 2019, có người thừa kế là bà Đ, bà P, bà M). Theo đó, di sản của bà H2 để lại được chia thành 04 kỷ phần. Bà H1, bà M2, bà D, ông P1 mỗi người được hưởng 01 kỷ phần bằng 5.957.766.200 : 4 = 1.489.441.550 đồng, tương đương 1/20 giá trị của căn nhà số F (phía trước) đường N theo kết quả thẩm định giá.

- Phần ông Vũ Công P1 được hưởng từ di sản của bà H2 là 1.489.441.550 đồng, cộng với phần di sản của riêng ông P1 bằng 1/5 căn nhà nêu trên là 5.957.766.200 đồng, tổng cộng bằng 7.447.207.750 đồng.

- Như vậy, tính tổng cộng các phần gồm: phần của ông P1 để lại = 7.447.207.750 đồng; phần của bà Đ được hưởng 1/5 căn nhà = 5.957.766.200 đồng; phần của bà P được hưởng 1/5 căn nhà = 5.957.766.200 đồng; phần của bà M được hưởng 1/5 căn nhà = 5.957.766.200 đồng. Tổng cộng bằng 25.320.506.350 đồng tương đương 84,9% giá trị căn nhà số F (phía trước) đường N. Ông P1 đã chết vào ngày 28/3/2019, nên án sơ thẩm xử: giao nhà-đất nêu trên cho bà Lương Thị Trúc Đ (vợ của ông P1) cùng với chị Vũ Thị Trúc P, chị Vũ Thị Trúc M được sở hữu nhà-đất nêu trên. Buộc bà Đ, chị P, chị M có trách nhiệm giao lại phần di sản của bà Vũ Thị H2 được chia cho bà Vũ Thị Tuyết D, Vũ Thị Tuyết H1, Vũ Thị Tuyết M2 mỗi người được nhận bằng 1.489.441.550 đồng (tương đương 1/20 giá trị căn nhà nêu trên). Án sơ thẩm xét xử như trên là có căn cứ. Phần án sơ thẩm tuyên về giá trị tương tương 1/20 của căn nhà, mà không tuyên cụ thể số tiền bằng bao nhiêu là không cụ thể, nên xác định lại cụ thể: 1/20 giá trị của căn nhà nêu trên bằng 1.489.441.550 đồng. Bà D, bà H1, bà M2 mỗi người được nhận 1.489.441.550 đồng.

- Đối với phần di sản của ông P1 để lại, theo án sơ thẩm xác định bà Đ, chị P, chị M mỗi người được hưởng 1/60 giá trị căn nhà. Hiện tại, bà Đ, chị P, chị M không có yêu cầu phân chia, do đó giao toàn bộ di sản của ông P1 để lại bằng 7.447.207.750 đồng cho bà Đ, chị P, chị M quản lý, khi nào có yêu cầu phân chia thì giải quyết thành vụ án khác.

2.2.4/ Đối với việc bà Đào Vũ Tuyết A đại diện cho bà D, bà H1, bà M2 cho rằng tiền để mua hóa giá nhà là do bà H1 và bà M2 gửi về cho bà H2 mua nhà, căn nhà trên là của bà H2, nay bà A thừa nhận thêm là có phần của ông P1 chứ không phải của đồng sở hữu như án sơ thẩm xét xử. Nhưng bà A không đưa ra được căn cứ để chứng minh có việc bà H1, bà M2 gửi tiền đóng góp mua căn nhà nêu trên, nên kháng cáo của bà A đại diện cho bà D, bà H1, bà M2 kháng cáo, là không có cơ sở để chấp nhận.

- Chấp nhận theo quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Không chấp nhận kháng cáo của bà Đào Vũ Tuyết A đại diện cho bà Vũ Thị Tuyết D, bà Vũ Thị Tuyết H1, bà Vũ Thị Tuyết M2 kháng cáo.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.

[2] Căn cứ vào Khoản 3, Khoản 5, Khoản 11 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 37; Khoản 4 Điều 34; khoản 1, khoản 2 Điều 147; Điều 165; Điều 228; Khoản 25 Điều 244; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 633, 634, 635; điểm a Khoản 1 Điều 674; Điều 676 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội nước C3 ngày 30/12/2016 hướng dẫn về án phí, lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản gắn liền với đất đối với nhà đất tọa lạc tại số F (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản chung của các ông, bà: Vũ Thị H2, Vũ Công P1, Lương Thị Trúc Đ, Vũ Thị Trúc P, Vũ Thị Trúc M.

2/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị Tuyết D đối với yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Vũ Thị H2.

2.1/ Xác định di sản thừa kế của bà Vũ Thị H2 là 1/5 giá trị nhà đất số F (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

2.2/ Xác định hàng thừa kế thứ hai của bà Vũ Thị H2 gồm: bà Vũ Thị Tuyết H1, bà Vũ Thị Tuyết M2, bà Vũ Thị Tuyết D và ông Vũ Công P1.

2.3/ Di sản thừa kế của bà Vũ Thị H2 được chia cụ thể như sau:

- Bà Vũ Thị Tuyết H1, bà Vũ Thị Tuyết M2, bà Vũ Thị Tuyết D mỗi người được hưởng là 1/4 trong số tiền 5.957.766.200 đồng = 1.489.441.550 đồng (tương đương giá trị 1/20 của giá trị nhà đất số F (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bà Lương Thị Trúc Đ, chị Vũ Thị Trúc P, chị Vũ Thị Trúc M mỗi người được nhận thừa kế phần di sản của ông Vũ Công P1 (phần ông P1 được hưởng từ di sản của bà H2 để lại), mỗi người được hưởng 1/60 giá trị nhà đất số F (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.(1/60 bằng 496.480.517 đồng).

2.4/ Bà Lương Thị Trúc Đ, Vũ Thị Trúc P, Vũ Thị Trúc M được sở hữu toàn bộ nhà đất số F (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lương Thị Trúc Đ, chị Vũ Thị Trúc P, chị Vũ Thị Trúc M có nghĩa vụ liên đới thanh toán lại cho bà Vũ Thị Tuyết H1, bà Vũ Thị Tuyết M2, bà Vũ Thị Tuyết D phần giá trị di sản thừa kế của mỗi người là 1.489.441.550 đồng.

Sau khi bà Lương Thị Trúc Đ, bà Vũ Thị Trúc P, bà Vũ Thị Trúc M thanh toán xong số tiền chia thừa kế cho bà Vũ Thị Tuyết D, bà Vũ Thị Tuyết M2 và bà Vũ Thị Tuyết H1 như trên thì bà Lương Thị Trúc Đ, bà Vũ Thị Trúc P, bà Vũ Thị Trúc M được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục sang tên quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở và các tài sản gắn liền với đất đối với nhà đất số F (phía trước) đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Lương Thị Trúc Đ, bà Vũ Thị Trúc P và bà Vũ Thị Trúc M (được quyền kê khai cả phần di sản của ông Vũ Công P1 để lại theo quy định)

3/ Việc án sơ thẩm xử đình chỉ xét xử yêu cầu phản tố của bị đơn về yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 157509, số vào sổ cấp GCN: CH 2436 do A2 cấp ngày 10 tháng 10 năm 2011 cho bà Vũ Thị H2; Cũng như phần công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc hủy Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày 23/5/2019, số công chứng 14172 tại Văn phòng C2. Phần này đã có hiệu lực pháp luật.

[3] - Các quyết định còn lại của Bản án sơ thẩm đã xét xử không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

- Bà Vũ Thị Tuyết D, bà Vũ Thị Tuyết H1, bà Vũ Thị Tuyết M2 mỗi người phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Ngày 30/8/2022 bà Đào Vũ Tuyết A (đại diện cho bà Vũ Thị Tuyết D) đã nộp số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002871; Ngày 10/11/2023, bà Đào Vũ Tuyết A (đại diện cho bà Vũ Thị Tuyết H1) đã nộp số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004219; Ngày 10/11/2023, bà Đào Vũ Tuyết A (đại diện cho bà Vũ Thị Tuyết M2) đã nộp số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004220 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, các số tiền này được chuyển qua thi hành phần án phí phải nộp.

Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày 21/12/2023.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VKSNDCC tại TP.HCM (1);
  • - TAND TP.HCM (1);
  • - VKSND TP.HCM (1);
  • - Đương sự;
  • - Cục THA DS TP.HCM (1);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (2) (NĐT).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Chánh Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 852/2023/DS-PT ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về qsh tài sản; t/c về thừa kế

  • Số bản án: 852/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về QSH tài sản; T/c về thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: y án st
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger