|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 852/2024/HNGĐ-ST Ngày 10 tháng 12 năm 2024 V/v: Xin ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Sen
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Dương Thị Diễm
- Bà Nguyễn Thị Thụy
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Cao Thị Thanh Huyền – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ba Đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mai Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 694/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 453/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 262/2024/QÐST-HPT ngày 04 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1975;
HKTT: Số C hẻm F đường L, phường G, quận B, thành phố Hà Nội. Nơi ở hiện nay: P223 tập thể B1 V, quận Đ, thành phố Hà Nội. Chị T có mặt.
- Bị đơn: Anh Nghiêm Văn H, sinh năm 1971;
HKTT và nơi ở: Số C hẻm F đường L, phường G, quận B, thành phố Hà Nội. Anh H vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Nguyên đơn – chị Lê Thị T trình bày:
- Về tình cảm: Chị và anh Nghiêm Văn H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, quận B, Hà Nội ngày 30/5/2000, số giấy 52.
Sau khi kết hôn chị và anh H về sống cùng gia đình anh H tại địa chỉ số C hẻm F đường L, phường G, quận B, thành phố Hà Nội. Đến năm 2018, chị chuyển ra khỏi nhà anh H, còn anh H vẫn sống tại địa chỉ trên.
Trong quá trình chung sống, chị và anh H sống hòa thuận được khoảng 7 năm đầu tiên thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H nghiện rượu, bỏ bê công việc, không chịu đi làm, có nhiều hành vi đe dọa gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của chị. Anh H để dao, kéo ở đầu giường và dọa sẽ giết chị. Thỉnh thoảng anh H có đánh chị. Do nghiện rượu nên anh H không có công ăn việc làm, không có trách nhiệm về kinh tế cho chị T chăm lo cuộc sống gia đình và con cái.
Nhưng do anh H nghiện rượu nên chị sợ sẽ bị ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe. Vì vậy, năm 2018 chị đã chuyển ra khỏi nhà anh H. Chị và anh H ly thân từ đó đến nay, mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Quá trình ly thân, anh H chỉ gọi điện cho chị chứ không bao giờ tìm chị để nói chuyện.
Nay chị thấy vợ chồng mâu thuẫn đã quá nhiều năm, cuộc sống quá mệt mỏi, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nghiêm Văn H.
- Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung là Nghiêm Minh H1, sinh ngày 17/5/2000 và cháu Nghiêm Minh A, sinh ngày 24/6/2005. Hiện nay cả hai con chung đều đã trưởng thành, phát triển bình thường. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.
- Về tài sản và nhà ở (động sản và bất động sản): Chị và anh H không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn, anh chị tự lo chỗ ở.
- Về nợ: Chị và anh H không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc triệu tập lấy lời khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn, tuy nhiên bị đơn vắng mặt không lý do, vì vậy Tòa án không tiến hành lấy lời khai của bị đơn được và cũng không tiến hành hòa giải cho các đương sự được.
* Tại biên bản ghi ý kiến ngày 18/10/2024, đại diện tổ dân phố số A, phường G, B, Hà Nội cung cấp: Về tình cảm: Anh Nghiêm Văn H và chị Lê Thị T có kết hôn và hiện nay anh H và chị T đã ly thân. Anh H đang sinh sông trên địa bàn, còn chị T đã ly thân và không còn sinh sống trên địa bàn. Việc vợ chồng anh không nhờ tổ dân phố hòa giải nên tổ dân phố không biết. Nay chị T xin ly hôn, tổ dân phố không có ý kiến. Về con chung: Chị T và anh H có 02 con chung là Nghiêm Minh H1 và Nghiêm Minh A, tổ dân phố không có ý kiến. Về tài sản, công nợ, nhà ở chung: Tổ dân phố không biết và không có ý kiến.
* Tại biên bản ghi lời khai ngày 28/10/2024, chị Lê Thị T1 (là chị gái của chị Lê Thị T) trình bày: Em gái chị là Lê Thị T và anh Nghiêm Văn H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, quận B, Hà Nội vào năm 2000. Sau khi kết hôn chị T và anh H về sống cùng mẹ đẻ của anh H. Đến khoảng năm 2018 chị T chuyển ra khỏi nhà anh H. Trong quá trình chung sống, chị T và anh H sống không hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H nghiện rượu, bỏ bê công việc, không chịu đi làm, dọa nạt chị T. Nhưng vì thương con, chị T chưa làm thủ tục ly hôn anh T mà muốn chờ cho các con trưởng thành. Chị T và anh H đã sống ly thân nhiều năm nay. Nay chị T xin ly hôn anh H, chị T1 đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn anh H. Về con chung: Chị T và anh H có 02 con chung là Nghiêm Minh H1, sinh ngày 17/5/2000 và cháu Nghiêm Minh A, sinh ngày 24/6/2005. Hiện nay cả hai con chung của anh chị đều đã trưởng thành. Về tài sản và nhà ở (động sản và bất động sản): Chị T1 được biết chị T và anh H không có tài sản chung. Về nợ chung: Chị T1 được biết chị T và anh H không có nợ chung. Ngoài ra, chị T1 không trình bày vấn đề gì khác.
* Tại biên bản ghi lời khai ngày 31/10/2024, chị Nghiêm Minh H1 (là con của chị Lê Thị T và anh Nghiêm Văn H) trình bày: Bố mẹ chị kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, quận B, Hà Nội vào năm 2000. Từ khi chị hiểu biết thì chị thấy cuộc sống của bố mẹ chị không hạnh phúc, cụ thể, chị thấy bố mẹ chị thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung, không chuyện trò với nhau. Bố mẹ chị đã sống ly thân từ khoảng năm 2018 đến nay, mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay mẹ chị nộp đơn xin ly hôn ra Tòa án, theo quan điểm của chị, Tòa án nên giải quyết cho bố mẹ chị ly hôn. Về con chung: bố mẹ chị có 02 con chung là chị và em gái là Nghiêm Minh A, sinh ngày 24/6/2005. Hiện nay cả hai đều đã trưởng thành. Về tài sản và nhà ở (động sản và bất động sản): Chị được biết bố mẹ chị không có tài sản chung. Về nợ chung: Chị được biết bố mẹ chị không có nợ chung.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Về nội dung giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 58 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị xử cho chị Lê Thị T được ly hôn anh Nghiêm Văn H; Về con chung: Chị Lê Thị T và anh Nghiêm Văn H có 02 con chung là Nghiêm Minh H1, sinh ngày 17/5/2000 và cháu Nghiêm Minh A, sinh ngày 24/6/2005. Hiện nay cả hai con chung đều đã trưởng thành nên đề nghị không xem xét; Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét. Về án phí: Chị T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lê Thị T nộp đơn khởi kiện xin ly hôn đối với anh Nghiêm Văn H. Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nghiêm Văn H là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại số C hẻm F đường L, phường G, quận B, thành phố Hà Nội nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ba Đình theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục giải quyết vụ án: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với anh H theo quy định của pháp luật nhưng anh H vẫn không đến tham gia tố tụng và không tham gia xét xử tại phiên tòa. Đây là lần thứ 2 anh H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H.
[2] Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ và các chứng cứ do các đương sự cung cấp và các chứng cứ do Tòa án đã thu thập, có đủ cơ sở xác định: Chị Lê Thị T và anh Nghiêm Văn H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, quận B, Hà Nội ngày 30/5/2000, số giấy 52. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Theo chị T trình bày: Quá trình chung sống, vợ chồng chị T, anh H phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do quan điểm sống của hai người không hợp nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H nghiện rượu, bỏ bê công việc, không chịu đi làm, có nhiều hành vi đe dọa gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của chị T. Chị T và anh H ly thân từ năm 2018 đến nay, mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Quá trình ly thân, anh H chỉ gọi điện cho chị T chứ không bao giờ tìm chị để nói chuyện. Anh H không đến Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn, không có ý kiến đề nghị Tòa án hòa giải cho vợ chồng về đoàn tụ.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Lê Thị T và anh Nghiêm Văn H đã căng thẳng, trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh H là có căn cứ chấp nhận.
[3] Về việc nuôi con chung: Chị T và anh H có 02 con chung là Nghiêm Minh H1, sinh ngày 17/5/2000 và cháu Nghiêm Minh A, sinh ngày 24/6/2005. Hiện nay hai con chung đều đã trưởng thành. Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung (động sản và bất động sản): Chị T và anh H cùng xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về khoản nợ: Chị T và anh H xác nhận anh chị không có nợ ai, không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lê Thị T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị T và anh Nghiêm Văn H có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
[7] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các căn cứ và nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Điều 39 Bộ luật dân sự;
- - Điều 51, 56, 57, 58 Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015
- - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- [1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thị T.
- [2]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị T được ly hôn anh Nghiêm Văn H.
- [3]. Về việc nuôi con chung: Chị Lê Thị T và anh Nghiêm Văn H có 02 con chung là Nghiêm Minh H1, sinh ngày 17/5/2000 và cháu Nghiêm Minh A, sinh ngày 24/6/2005. Hiện nay cả hai con chung đều đã trưởng thành. Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung nên Tòa án không xem xét.
- [4]. Về tài sản chung và nhà ở chung (động sản và bất động sản): Tòa án không xem xét, giải quyết. Về các khoản nợ: Tòa án không xem xét, giải quyết.
- [5]. Về án phí: Chị Lê Thị T phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu số 0030627 ngày 08 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Án xử công khai sơ thẩm, chị Lê Thị T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nghiêm Văn H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Sen |
Bản án số 852/2024/HNGĐ-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 852/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án "Xin ly hôn" giữa chị Lê Thị T và anh Nghiêm Văn H
