Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 852/2024/DS-PT

Ngày: 24/9/2024

V/v “Tranh chấp đòi lại tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hương

Các Thẩm phán: Ông Trương Việt Hồng

Bà Trần Thị Kim Quy

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Quyện - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Mạnh Thị Tú Uyên - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 24/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 336/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2024/DS-ST ngày 18/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2118/2024/QĐPT-DS ngày 22 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 6266/2024/QĐPT-DS ngày 15 tháng 5 năm 2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 5206/2024/QĐPT-DS ngày 28 tháng 5 năm 2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 499/2024/QĐPT-DS ngày 04 tháng 9 năm 2024; giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:

    Bà Nguyễn Thị Thảo T, sinh năm: 1981; Địa chỉ: E1/13 T, ấp E, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thái T1, sinh năm 1978; Địa chỉ: I đường số A, khu phố B, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản ủy lập ngày 21/4/2023) (có mặt)

  2. Bị đơn:

    Bà Mai Lệ H, sinh năm: 1986; Địa chỉ: D ấp D, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Thân Thị Hồng N, sinh năm 1986; Địa chỉ: B đường C, phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.(Văn bản ủy lập ngày 10/6/2024) (có mặt)

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    Ông Bùi Minh S, sinh năm 1984; Địa chỉ: D ấp D, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  4. Người làm chứng:

    Ông Lê Tấn T2, sinh năm: 1977; Địa chỉ: C ấp C, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 05/9/2022 và Đơn khởi kiện bổ sung ngày 06/3/2023, Bản tự khai ngày 06/3/2023, Bản tự khai ngày 16/01/2024 và các biên bản hòa giải, biên bản đối chất tại Tòa án và tại phiên Tòa ngày hôm nay nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thảo T do ông Nguyễn Thái T1 làm đại diện theo ủy quyền trình bày:

Vào năm 2019 bà Mai Lệ H môi giới cho bà Nguyễn Thị Thảo T bán một phần thửa đất thuộc 729 tờ bản đồ số 76, tọa lạc tại E, Thích Thiện H1, ấp E, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Lê Tấn T2, diện tích: 2.000m², với giá là 12.500.000.000 đồng với các thỏa thuận như sau:

  • Bên mua đặt cọc trước cho Bên bán lần 1 vào ngày 22/11/2019 với số tiền là: 1.500.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng).
  • Đặt cọc lần hai vào ngày 20/01/2020 số tiền 3.500.000.000 đồng ( ba tỷ năm trăm triệu đồng).
  • Đặt cọc lần ba vào ngày 30/03/2020 số tiền 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng).

Số tiền còn lại chờ tách thửa xong ra công chứng sang tên chồng đủ tiền (tối thiểu 6 tháng kể từ ngày nhận cọc lần đầu tiên) tức là hạn cuối để ra công chứng sang tên vào ngày 22/05/2020. Theo thỏa thuận bà T phải làm thủ tục xin chuyển mục đích sử dụng sang đất thổ cư hết đối với 2.000m², làm thủ tục sang tên cho ông T2 và chịu thuế chuyển mục đích sử dụng đất. Bà Mai Lệ H nhận làm thủ tục, tách thửa, sang tên và đóng thuế thổ cư khi chuyển mục đích sử dụng đất ở cho một phần diện tích đất mà ông Lê Tấn T2 đã đặt cọc mua đất của bà T. Với thỏa thuận chi phí môi giới và làm dịch vụ tách thửa, lên thổ cư và sang tên là 2% trên tổng số tiền chuyển nhượng đất tương đương 250.000.000 đồng (bà T và bà H chỉ thỏa thuận miệng chứ không lập thành văn bản). Ngày 22/11/2019 bà Nguyễn Thị Thảo T đã đưa cho bà Mai Lệ H số tiền 500.000.000 đồng, bà H đã ký nhận vào phiếu chi tiền và mà H cũng đã thừa nhận là đúng chữ ký của mình tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh. Trong đó có 450.000.000 đồng là tiền đóng thuế thổ cư và 50.000.000 đồng là tiền tạm ứng phí môi giới. Một thời gian sau bà H yêu cầu bà T đưa thêm 200.000.000 đồng với lý do là ứng tiền môi giới, bà T đồng ý và kêu ông Lê Tấn T2 chuyển khoản cho bà H 200.000.000 đồng. Sau đó ông T2 đã trừ thêm 200.000.000 đồng khi thanh toán tiền chuyển nhượng đất cho bà T. Như vậy bà Mai Lệ H đã nhận đủ 250.000.000 đồng phí môi giới và phí dịch vụ như đã thỏa thuận với bà T.

Mặc dù bà Mai Lệ H đã nhận tiền đóng thuế thổ cư và tiền tạm ứng phí dịch vụ nhưng bà H không tách thửa được, cũng không xin chuyển mục đích sử dụng đất sang đất thổ cư đối với phần đất bà H môi giới bà T bán cho ông T2 nhưng bà H đã đưa ra nhiều lý do, rồi hứa hẹn lần này tới lần khác. Quá thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc với ông Lê Tấn T2, ông T2 đã yêu cầu bà Nguyễn Thị Thảo T phải bồi thường hợp đồng đặt cọc như đã thỏa thuận. Bà T không có tiền để bồi thường cho ông T2 nên mới thỏa thuận với ông Lê Tấn T2 hủy bỏ hợp đồng đặt cọc ngày 22/11/2019, và đồng ý chuyển nhượng cho ông T2 toàn bộ diện tích đất trong sổ đỏ cho ông T2. Việc chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất là nằm ngoài ý muốn của bà T nhưng vì bà T là người vi phạm hợp đồng đặt cọc và phải bồi thường nên không còn sự lựa chọn nào khác là phải chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất chứ bà T chỉ muốn chuyển nhượng cho ông T2 với diện tích: 2.000 m² mà thôi vì chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất chỉ được 16.000.000.000 đồng. Vậy nên ngày 26/11/2021 bà Nguyễn Thị Thảo T làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Bùi Thị Phương L (vợ ông Lê Tấn T2) tại Văn phòng C toàn bộ diện tích đất là: 3.884,7 m². Với giá là: 16.000.000.000 đồng. Việc chuyển nhượng này bà T và ông T2 tự thỏa thuận với nhau, bà H không có tham gia môi giới. Mặc dù bà Mai Lệ H không hoàn thành nhiệm vụ, đã vi phạm sự thỏa thuận gữa hai bên, làm cho hợp đồng đặt cọc bị hủy bỏ, việc chuyển nhượng một phần thửa đất không thành, nhưng bà Nguyễn Thị Thảo T đã đồng ý cho bà Mai Lệ H toàn bộ số tiền tạm ứng phí môi giới và dịch vụ, không lấy lại số tiến 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu), chỉ yêu cầu bà Mai Lệ H trả lại số tiền 450.000.000 đồng (bốn trăm năm mươi triệu đồng) là tiền bà T đưa cho bà H để đóng thuế thổ cư khi chuyển mục đích sử dụng đất cho ông T2 mà bà H chưa đóng thuế. Thế nhưng bà H không trả cho bà T, với nhiều lý do khác nhau và cho rằng bà H có thể tách thửa được nhưng bà T không cho bà H làm tiếp. Bà Nguyễn Thị Thảo T đã đến UBND huyện B tìm hiểu sự việc thì được UBND huyện B trả lời bằng văn bản số: 4902/ UBND ngày 14/12/2021 về việc phúc đáp nội dung đơn của bà Nguyễn Thị Thảo T là thửa đất của bà Nguyễn Thị Thảo T không được phép tách thửa. Do đó, bà Nguyễn Thị Thảo T mới khởi kiện bà Mai Lệ H ra tòa, yêu cầu Tòa án buộc bà Mai Lệ H phải trả cho bà Nguyễn Thị Thảo T số tiền 450.000.000 đồng (bốn trăm năm mươi triệu đồng), bà T không yêu cầu bà H trả lãi đối với số tiền trên.

Tại bản tự khai ngày 30/02/2023, các biên bản hòa giải và biên bản đối chất tại Tòa án, bị đơn bà Mai Lệ H trình bày:

Năm 2019, bà Mai Lệ H có môi giới bán đất cho bà Nguyễn Thị Thảo T với ông Lê Tấn T2 lô đất tại địa chỉ E1/27 T, ấp E, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 12.500.000.000 tỷ (mười hai tỷ năm trăm triệu đồng)/2000m². Theo thoả thuận và theo giấy cọc lần đầu ngày 20/11/2019 thì bà T phải bao lên thổ cư là 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng)/m² x 2000m² = 1.200.000.000 đồng (một tỷ hai trăm triệu đồng).

Sau đó bà H đã thương lượng thành công việc bên mua đóng thuế lên thổ cư từ ông T2 thay cho bà T và tiền công cho việc này là bà H được nhận cộng với tiền môi giới lô đất trên là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng). Việc thoả thuận giữa bà H và bà T tuy không được lập thành hợp đồng nhưng có tin nhắn thoả thuận giữa hai bên. Về phiếu chi ngày 22/11/2019 mà bà T nộp cho Tòa án thì bà H xác nhận có nhận của bà T số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng nhưng tiền này là tiền công phí môi giới bán đất cho ông T2 chứ không phải là tiền trả tiền thuế thổ cư theo nội dung ghi nhận tại phiếu chi ngày 22/11/2019. Phần nội dung chữ viết trên phiếu thu là do bà T viết, còn phần người ký nhận tiền thì bà H xác nhận là chữ ký của bà H nhưng bà H nghi ngờ phần nội dung “Trả tiền thuế thổ cư 450.000.000 đồng” trên phiếu thu là do bà T ghi thêm, tuy nhiên bà H không có yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết.

Nay bà T khởi kiện yêu cầu bà H trả số tiền 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng thì bà H hoàn toàn không đồng ý, vì tiền này không phải tiền trả thuế thổ cư mà là tiền công môi giới bán đất của bà T cho ông T2. Bà Mai Lệ H xác nhận đã nhận của bà Nguyễn Thị Thảo T số tiền tổng cộng là 700.000.000 đồng, trong đó có 200.000.000 nhận từ ông Lê Tấn T2. Bà H cho rằng đây toàn bộ là số tiền công bà H môi giới cho bà T bán đất cho ông T2 chứ không hề có số tiền 450.000.000 đồng là tiền đóng thuế thổ cư do bà T đưa cho bà H. Bà H cũng xác nhận số tiền môi giới 700.000.000 đồng do bà T và bà H thỏa thuận miệng chứ không có lập văn bản. Bà H không đồng ý trả số tiền 450.000.000 đồng cho bà T, vì tiền này không phải tiền trả thuế thổ cư mà là tiền công bà H môi giới cho bà T bán đất cho ông T2.

Tại bản tự khai ngày 25/7/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Minh S trình bày:

Ông S là chồng của bà Mai Lệ H, việc bà T và bà H làm ăn giao dịch với nhau như thế nào thì ông S không biết và ông cũng không có liên quan gì đến số tiền mà bà T kiện yêu cầu bà H phải trả lại cho bà T.

Tại bản tự khai ngày 27/4/2023 và ngày 21/12/2023 người làm chứng ông Lê Tấn T2 trình bày:

Và năm 2019, ông T2 có thỏa thuận mua 2.000 m² đất của bà T tại xã L do bà H (em bà con bên vợ của ông T2) giới thiệu. Tại thời điểm đặt cọc ông T2 không có ở nhà. Ông T2 có nhờ H đặt cọc dùm 1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng bằng tiền của H. Sau đó ông T2 đã chuyển lại 1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng cho H để trả lại tiền cọc mua đất trên. Sau đó, T đã ký xác nhận tiền đặt cọc trực tiếp với ông T2. Bà T có nhờ ông T2 chuyển cho bà H số tiền 200.000.000 đồng, số tiền này sau đó được trừ vào tiền ông T2 mua đất của bà T. Theo thỏa thuận thì bà T phải xin chuyển mục đích lên đất thổ cư hết 2.000 m² đất và đóng thuế thổ cư rồi tách thửa sang tên cho ông T2 nhưng không chuyển mục đích lên đất thổ cư và tách thửa sáng tên được nên hai bên thỏa thuận bà T bán hết đất trong sổ đỏ cho ông T2. Việc H có nhận 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng của T là tiền giao dịch gì thì ông T2 không biết.

Theo thuận ban đầu bà H môi giới cho ông T2 chỉ mua của bà T 2.000 m² đất thuộc một phần thửa đất số 729 tờ bản đồ số 76, tọa lạc tại E1/27 T, ấp E, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 12.500.000.000 đồng. Bà T có trách nhiệm xin chuyển mục đích sử dụng sang đất thổ cư, chịu đóng thuế chuyển mục đích thổ cư và làm thủ tục tách thửa sang tên cho ông T2. Ông T2 và bà T có ra Phòng công chứng ký Hợp đồng đặt cọc. Tuy nhiên do bà T không xin chuyển mục đích sử dụng sang đất thổ cư đối với 2.000 m² đất trên và không làm thủ tục tách thửa sang tên cho ông T2 được nên ông T2 và bà T mới thỏa thuận hủy bỏ hợp đồng đặt cọc mua 2.000 m² đất và ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ phần đất trong sổ đỏ là 3.884,7 m² với giá là 16.000.000.000 đồng. Hiện bà T đã làm thủ tục sang tên toàn bộ phần đất này cho vợ ông T2 đứng tên. Việc thỏa thuận bán 3.884,7 m² với giá là 16.000.000.000 đồng là do ông T2 và T tự thỏa thuận với nhau không thông qua môi giới của bà H. Ông T2 xác nhận hoàn toàn không có chuyện bà H kêu ông T2 chịu toàn bộ tiền thuế lên thổ cư đối với 2.000 m² mà ông T2 và bà T thỏa thuận đặc cọc mua bán lúc đầu vì phần đất trên không chuyển lên đất thổ cư được. Hiện nay vẫn không chuyển lên đất thổ cư được và ông T2 cũng không có đóng khoản tiền thuế lên thổ cư nào hết.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2024/DS-ST ngày 18/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thảo T đối với bị đơn là Mai Lệ H. Buộc bà Mai Lệ H phải trả cho bà Nguyễn Thị Thảo T số tiền 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng.

Kể từ ngày bà Nguyễn Thị Thảo T có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Mai Lệ H chậm trả số tiền nêu trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

Ngày 23/01/2024, bị đơn bà Mai Lệ H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm ngày 18/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

* Tại phiên tòa cấp phúc thẩm:

  • Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, vẫn giữ nguyên các ý kiến đã trình bày. Nguyên đơn không nộp thêm các chứng cứ nào khác ngoài các chứng cứ đã được giao nộp tại cấp sơ thẩm.
  • Bị đơn không rút đơn kháng cáo, vẫn giữ nguyên các ý kiến đã trình bày. Tại phiên Tòa bị đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định tại Phân viện khoa học hình sự - Bộ C1 các vấn đề: Thực hiện việc giám định chữ ký tên và chữ viết tại mục: Người nhận tiền của phiếu chi số 01, quyển số 01 ngày 22/11/2019 mang tên bà Mai L1 Huyền có phải do bà Mai Lệ H viết và ký hay không; Giám định dòng chữ: "Tạm ứng môi giới 50 triệu. Trả thuế thổ cư 450 triệu" với các dòng chữ khác trên Phiếu chi số 01, quyển số 01 ngày 22/11/2019 có được viết cùng một thời điểm hay không và gửi kèm theo đơn yêu cầu là các tài liệu, mẫu so sánh chữ viết, chữ ký. Tòa án đã ra quyết định Trưng cầu giám định số 7567/QĐ - TCGĐ ngày 05/6/2024 và Phân viện KHHS Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có Bản kết luận giám định số 3658/KL-KTHS ngày 23/7/2024 gởi Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu tại phiên tòa:

  • Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử tuyên bố nghỉ để nghị án Thẩm phán chủ tọa, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên xử:
    • - Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Mai Lệ H; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 31/2024/DS-ST ngày 18/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
    • - Án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Mai Lệ H đảm bảo đúng quy định về thời hạn và thủ tục kháng cáo do đó về hình thức là hợp lệ. Về người tham gia tố tụng trong vụ án và tống đạt các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và xác định đúng về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án.

[2] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thảo T khởi kiện yêu cầu bà Mai Lệ H phải trả cho bà T số tiền 450.000.000 đồng (bốn trăm năm mươi triệu đồng). Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Mai Lệ H, cấp sơ thẩm đã nhận định như sau:

- Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì: Tại phiếu chi ngày 22/11/2019 thể hiện: “Họ và tên người nhận tiền: Mai Lệ H, sinh năm 1986, cc số: [...]. Địa chỉ: D ấp D, Lê Minh X, B, TP HCM. Lý do chi: Tạm ứng môi giới 50 triệu + trả thuế thổ cư: 450 triệu. Số tiền 500.000.000 triệu VND (viết bằng chữ): Năm trăm triệu đồng chẵn”, bà Nguyễn Thị Thảo T ký tên tại mục “Người lập phiếu” và bà Mai Lệ H ký tên, ghi họ tên, số điện thoại tại mục “Người nhận tiền”. Bà T xác nhận chữ ký trong phiếu chi là của bà T, bà H xác nhận chữ ký trong phiếu chi là của mình. Đồng thời tại phiên tòa bà H cũng xác nhận có nhận của bà T số tiền 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng trong đó có 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng nhận vào ngày 22/11/2019. Như vậy, có căn cứ xác nhận việc bà T có giao cho bà H số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng vào ngày 22/11/2019 là có thật.

Đối với nội dung trả tiền thuế thổ cư: 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng trong phiếu chi thì bà H cho rằng bà nghi ngờ bà T ghi thêm sau khi lập phiếu chi. Tuy nhiên do thời điểm lập phiếu chi đã lâu nên bà H không nhớ rõ, chỉ nghi ngờ, không chắc chắn, không có tài liệu, chứng cứ chứng minh vấn đề này đồng thời không có yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết. Vì vậy, có căn cứ xác định số tiền 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng là số tiền thỏa thuận giữa bà T và bà H dùng để đóng thuế thổ cư cho phần đất 2.000m² mà ông T2 đặt cọc mua của bà T ban đầu.

Bà Mai Lệ H không đồng ý trả số tiền 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng cho bà T vì cho rằng bà đã vận động ông T2 chịu toàn bộ thuế thổ cư nên bà H được hưởng số tiền này và chứng cứ bà H đưa ra là các bản ảnh tin nhắn zalo giữa bà H và bà T nhưng không đủ căn cứ để chấp nhận vì tại phiên tòa ông T2 xác định không hề có thỏa thuận với bà H về việc ông T2 chịu toàn bộ tiền thuế lên thổ cư đối với 2.000m² đất thuộc một phần thửa đất số 729 tờ bản đồ số 76, tọa lạc tại E1/27, Thích Thiện H1, ấp E, Xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh mà bà H môi giới bà T bán cho ông T2, vì phần đất trên không tách thửa và chuyển lên đất thổ cư được nên ông T2 với bà T phải hủy bỏ hợp đồng đặt cọc mua 2.000m² đất trên, sau đó bà T với ông T2 ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ phần đất trong sổ đỏ là 3.884,7 m² với giá là 16.000.000.000 đồng, hiện nay bà T đã làm thủ tục sang tên toàn bộ phần đất này cho vợ ông T2 đứng tên. Việc thỏa thuận bán 3.884,7 m² với giá là 16.000.000.000 đồng là do ông T2 và bà T tự thỏa thuận với nhau không thông qua môi giới của bà H. Tới hiện nay ông T2 vẫn chưa xin lên đất thổ cư được và cũng không có đóng một khoản tiền thuế lên thổ cư nào. Mặt khác, tại phiên tòa bà H xác nhận có nhận của bà T tổng số tiền là 700.000.000 đồng và cho rằng toàn bộ số tiền này không phải là tiền trả thuế thổ cư mà là tiền công môi giới bán đất của bà T cho ông T2 là tự mâu thuẫn với chính lời khai và chứng cứ là tin nhắn zalo bà H cung cấp cho Tòa. Bên cạnh đó, bà H cũng không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào thể hiện việc bà T và bà H thỏa thuận tiền công môi giới đất là 700.000.000 đồng.Do nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân bà Mai Lệ H có trách nhiệm trả số tiền 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng, không yêu cầu ông Bùi Minh S cùng có trách nhiệm liên đới trả số nợ trên. Đồng thời, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Minh S là chồng của bà Mai Lệ H xác định việc bà T và bà H làm ăn giao dịch với nhau như thế nào thì ông S không biết và ông cũng không có liên quan gì đến số tiền mà bà T kiện yêu cầu bà H phải trả nên ông S không có trách nhiệm liên đới trả số tiền trên.Từ những nhận định nêu trên cấp sơ thẩm đã tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thảo T.

[3] Nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm như sau:

[3.1] Theo Bản kết luận giám định số 3658/KL-KTHS ngày 23/7/2024 của Phân viện KHHS Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh đã giám định thì: Chữ ký đứng tên Mai Lệ H, chữ viết họ tên Mai Lệ H dưới mục "Người nhận tiền" tại tờ Phiếu chi số 01 ngày 22/11/2019 là của bà Mai Lệ H" và Phân viện KHHS Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng không thực hiện được việc giám định tuổi mực của chữ viết trên "Phiếu chi số 01 ngày 22/11/2019", do đó chưa có đủ cơ sở để xác định nội dung trên phiếu chi là được viết thêm để làm thay đổi bản chất của số tiền 450 triệu là từ tiền hoa hồng môi giới bán đất thành tiền "Trả thuế thổ cư 450 triệu" như bị đơn trình bày.

[3.2] Từ những phân tích trên nhận thấy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong giao dịch dân sự, nếu sau này phía bị đơn bà Mai Lệ H có đầy đủ chứng cứ để xác định đối với số tiền 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) này không phải là tiền trả Thuế thổ cư, mà là tiền công trong việc môi giới bán đất giữa bà T với ông Lê Tấn T2 đối với lô đất địa chỉ E1/27 T, ấp E, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thì bà Mai Lệ H được quyền khởi kiện đối với nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thảo T bằng một vụ kiện khác khi bà có yêu cầu.

[3.3] Đối với vụ kiện này, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác minh, thu thập và đánh giá đầy đủ các chứng cứ liên quan đến vụ án, do đó Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị đơn, đối với lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên bản án số 31/2024/DS-ST ngày 18/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ nên chấp nhận.

[4] Án phí phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm được giữ nguyên nên người kháng cáo bà Mai Lệ H phải nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5] Về chi phí giám định: Đương sự có yêu cầu, đã nộp đủ và không có ý kiến, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội,

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 31/2024/DS-ST ngày 18/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thảo T đối với bị đơn là Mai Lệ H.

    Buộc bà Mai Lệ H phải trả cho bà Nguyễn Thị Thảo T số tiền 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng.

    Kể từ ngày bà Nguyễn Thị Thảo T có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Mai Lệ H chậm trả số tiền nêu trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  2. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Mai Lệ H phải chịu 22.000.000 (hai mươi hai triệu)đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị Thảo T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.000.000 (mười hai triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0042116 ngày 01/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Án phí dân sự phúc thẩm:

    Bị đơn bà Mai Lệ H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0033179 ngày 29/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND H.Bình Chánh, TP.HCM;
  • - VKSND H.Bình Chánh, TP.HCM;
  • - Chi cục THADS H.Bình Chánh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (20).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Ngọc Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 852/2024/DS-PT ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi lại tài sản

  • Số bản án: 852/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp đòi lại tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger