|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 851/2024/DS-PT
Ngày 25 - 9 - 2024
Về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp
đồng cho thuê quyền sử dụng đất, yêu cầu bồi
thường thiệt hại tài sản và yêu cầu hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất”
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ
Ông Trần Văn Đạt
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 465/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 6 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2024/DS-ST ngày 22-4-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2632/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Trung H, sinh năm 1964; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Phan Mỹ L, sinh năm 1994; địa chỉ thường trú: Ấp H, xã T, huyện V, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; địa chỉ hiện tại: Số A, đường L, Phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Trung V, sinh năm 1954; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: bà Đặng Thị Kiều O, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ B phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hồ Thanh T, sinh năm 1958; địa chỉ: ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Ông Lê Văn L1, sinh năm 1954 (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh năm 1954 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1967 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
- Ông Nguyễn Trung H2, sinh năm 1985 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Phước N, sinh năm 1944 (vắng mặt).
- Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Vĩnh Long (xin xét xử vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Mỹ L2, sinh năm 1970; địa chỉ: Số B, ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre (xin xét xử vắng mặt).
Người có kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Trung H;
Người có kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện ngày 29/01/2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Trung H trình bày:
Ông H đứng tên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện L ( nay là Mang T2 ) cấp ngày 07/11/1991, thửa số 23, tờ bản đồ số 0001, diện tích 2.620 m2, loại đất 2 vụ lúa, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M. Gốc đất ông H được cha, mẹ ruột là cụ Nguyễn Văn H3 (đã chết năm 2004), mẹ là cụ Nguyễn Thị Kim H4 (đã chết năm 2017) cho trước năm 1991; nhưng do ông H là người trực tiếp nuôi dưỡng cha, mẹ vì cha mẹ già yếu nên có trả cho cha, mẹ là 12 chỉ vàng 24K. Việc trả này không có ai biết, không làm giấy tờ.
Cụ H3 và cụ H4 chung sống có 08 người con gồm: Nguyễn Trung V, Nguyễn Trung H, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Thị M, Nguyễn Tấn H5, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Thị Mỹ L2, Nguyễn Thanh L3 (chết năm nào không nhớ rõ). Lúc 02 cụ còn sống năm 1990 cụ H3 và cụ H4 có làm tờ di chúc cho đất các con, tờ di chúc này không có liên quan đến phần đất tranh chấp hiện nay là thửa 23.
Sau khi được cha mẹ cho đất thì ông H không có canh tác mà cho ông V canh tác do ông H đi làm ăn xa. Năm 1995 ông H trở về địa phương có nói với ông V lấy đất lại canh tác nhưng ông V nói để ông V thuê canh tác, việc cho thuê chỉ có ông H và ông V biết chứ không có ai biết và cũng chỉ bằng lời nói. Hai bên thỏa thuận cho thuê 1.500.000 đồng/2.620m2 /năm, thời hạn thuê không giới hạn, mục đích cho thuê để ông V trồng lúa. Từ khi ông V thuê đến nay không đóng tiền. Sau đó ông V liên liếp trồng cây một phần 2.384,3m2, phần còn lại 445,2 m2 do anh H2 sử dụng đến năm 2019 ông H trở về địa phương mới biết.
Ông H yêu cầu Tòa án giải quyết các yêu cầu sau: Buộc ông V và anh H2 phải trả lại quyền sử dụng đất thửa 23 theo diện tích đo đạc thực tế, ông sẽ bồi hoàn giá trị cây trồng theo định giá; ông V phải trả tiền thuê đất từ năm 1995 đến nay 29 năm x 1.500.000đ/năm = 43.500.000đ.
- Theo đơn phản tố ngày 13/05/2021, bổ sung ngày 04/7/2023 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Trung V trình bày:
Cha, mẹ cho ông H có 1.000m2 thuộc thửa số 23, không phải trọn thửa như ông H khai), phần còn lại của thửa số 23 là cha, mẹ cho ông năm 1991, ông có đăng ký kê khai nhưng không cấp giấy tờ đăng ký. Ngày 30/6/1993 ông H bán phần đất của ông H cho ông Lê Văn L1 cùng ấp giá là 5 chỉ vàng 24k chỉ làm giấy tay; ông L1 bán lại ông N. Năm 1996 thì ông chuộc đất lại từ ông N là 5,5 chỉ vàng 24k chỉ làm giấy tay và ông đã quản lý canh tác toàn bộ thửa đất số 23. Em ông là anh H2 có thời gian sử dụng 1 phần thửa 23 (445,2m2) khi còn ở chung với cha mẹ. Đến năm 2000 ông mới phát hiện thửa 23 ông H đã đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng thực tế đất này không còn của ông H nên ông không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện và phản tố yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 07/11/1991 cho ông Nguyễn Trung H và công nhận quyền sử dụng đất thửa số 23 cho ông. Phần đất anh H2 có thời gian sử dụng ông sẽ thỏa thuận tách ra cho anh H2 sau.
Ngoài ra ông H còn chặt phá 58 cây chuối của ông V trồng trên đất nên ông yêu cầu ông H phải bồi thường cho ông theo giá trị 3.770.000 đ.
- Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 13/5/2021 và đơn yêu cầu độc lập bổ sung ngày 04/7/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thanh T trình bày: Bà T thống nhất với yêu cầu phản tố của ông V.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn L1 trình bày: Ông có mua phần đất của ông H diện tích 1000m2 giá 05 chỉ vàng 24K có làm giấy tay do ai đó soạn sẵn cho các bên ký tên. Năm 1994, ông bán đất này lại cho ông N với giá 05 chỉ vàng, đã nhận vàng và giao đất nên không còn liên quan gì đến ông.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 09 tháng 12 năm 2022, bà Nguyễn Thị Ngọc H1 (vợ ông L1), trình bày: Bà H1 thống nhất ý kiến của ông L1.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 25/12/2023, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phước N trình bày: Ông với ông Nguyễn Văn H3 (cha của ông H và ông V) là bà con chú bác ruột; ông không có mâu thuẫn gì với các con của ông H3.
Khoảng năm 1994, ông có mua 04 công đất ruộng (khoảng 1000m2/công) có nguồn gốc của ông Nguyễn Văn H3 tọa lạc tại ấp T, xã T (hiện có phần đất đang tranh chấp giữa ông H và ông V nhưng ông không rõ số thửa). Ông mua trực tiếp từ ông H3 01 công, ông Lê Văn L1 mua 03 công từ các con của ông H3: trong đó bà Nguyễn Thị Mỹ L2 (em ông V và ông V) đứng tên 02 công, còn 01 công ông không rõ của ai; sau đó ông L1 bán lại ông 03 công này với giá ông không rõ là 05 chỉ hay 5,5 chỉ vàng 24K/công, hai bên có làm giấy tay nhưng ông không có giữ giấy. Sau này ông bán cả 04 công đất trên cho ông V bằng giá ông đã mua; ông V có làm giấy tay mua bán nhưng ông không có giữ. Việc mua bán trên không ra chính quyền làm thủ tục sang tên nhưng đều đã chấm dứt, ông không còn quyền và nghĩa vụ gì đối với đất này. Ông không yêu cầu gì trong vụ tranh chấp đất giữa ông H và ông V.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/5/2023 và ngày 18/9/2023, anh Nguyễn Trung H2 trình bày: Anh là em ông H và ông V. Thửa đất số 23 do mẹ anh là bà Lê Thị T3 sử dụng. Sau khi cụ T3 qua đời thì anh tiếp tục sử dụng một phần thửa 23 (diện tích thực đo 445,2 m2). Nay anh không có yêu cầu độc lập trong vụ án nhưng anh không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông H mà thống nhất theo yêu cầu phản tố của ông V. Trường hợp tòa án chấp nhận yêu cầu của ông V thì anh đồng ý sẽ tự thoả thuận với ông V sau.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 03 tháng 8 năm 2022, ông Nguyễn Văn T1 trình bày: Ông là em của ông H và ông V. Ông có phần đất giáp thửa 23 đang tranh chấp không liên quan gì đến ông. Tuy ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 23 nhưng trước nay do ông V canh tác.
- Tại văn bản số 1533/UBND-NC ngày 12/10/2021 của Ủy ban nhân dân huyện M trình bày: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 23 cho ông Nguyễn Trung H đứng tên là đúng trình tự thủ tục quy định.
- Tại bản khai ý kiến ngày 16/5/2023 và ngày 26/3/2024 bà Nguyễn Thị Mỹ L2 (em ông H và ông V) trình bày:
Sau khi cha mẹ chúng tôi ly hôn, bà cùng anh Nguyễn Trung V và một người khác sống ở Vĩnh Long. Anh Nguyễn Trung H sống với mẹ ở Cà Mau. Năm 1991, cha tôi có chia đất vườn và ruộng cho các anh em. Tôi và H được chia mỗi người 1000m2 đất. Anh V là con trai trưởng nên được chia nhiều hơn. Có một phần đất anh V được cha cho từ rất lâu và anh V đã canh tác trên đất từ trước năm 1991, bên cạnh phần đất anh H được cha cho. Vì anh H không sống ở Vĩnh Long nên đất vẫn do cha canh tác. Đến năm 1993, tôi lấy chồng ở xa còn anh H thì không sống ở địa phương nên tôi với anh H có bán đất cho anh Lê Văn L1. Việc mua bán có làm giấy tay. Tuy nhiên, khi anh Nguyễn Trung V biết được việc bán đất và nói rằng đất do cha để lại nên không muốn anh em bán hết cho người ngoài nên anh V có ý định mua lại phần đất mà tôi và anh H đã bán cho ông L1. Sau này tôi biết được anh V mua lại các thửa đất đã bán cho ông L1, thửa đất của tôi được cha cho và bán đi hiện do anh V canh tác và sử dụng. Còn anh V mua lại toàn bộ diện tích bao nhiêu và giá tiền như thế nào thì tôi không rõ. Về việc tranh chấp, tôi được biết thửa đất số 23 anh H đã đăng ký quyền sử dụng đất và đang tranh chấp bao gồm phần đất 1000m2 của anh H được cha cho và phần đất của anh V. Tôi không biết chính xác diện tích phần đất của anh V vì đã được cho và canh tác từ rất lâu khi tôi còn nhỏ. Tôi có nghe anh V kể việc cấp nhầm diện tích đất giữa anh V và anh H nhưng các anh đã thỏa thuận được tại địa phương.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2024/DS-ST ngày 22-4-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, đã tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Trung H về các nội dung sau:
- Về việc yêu cầu ông Nguyễn Trung V, Nguyễn Trung H2 trả lại quyền sử dụng đất thửa số 23 (chiết thửa mới thực đo gồm 98-1 diện tích 2384,4m2 và 98-2 diện tích 445,2m2) tờ bản đồ số 1 loại đất LUC tọa lạc ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
- Về việc yêu cầu ông Nguyễn Trung V trả tiền thuê quyền sử dụng đất thửa 23 thời gian 29 năm bằng 43.500.000 đ (Bốn mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng).
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Trung V.
Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Cửu Long (nay là huyện M, tỉnh Vĩnh Long) cấp ngày 07/11/1991, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 16729/QSDĐ đối với thửa số 23, tờ bản đồ số 0001, diện tích 2.620 m2, loại đất 2 vụ lúa, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M do ông Nguyễn Trung H đứng tên.
Công nhận các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích 1000m2 thuộc thửa 23 tọa lạc ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long giữa ông Nguyễn Trung H với ông Lê Văn L1 thể hiện bằng “Tờ mua đất canh tác”; giữa ông Lê Văn L1, bà Nguyễn Thị H1 với ông Nguyễn Phước N thể hiện bằng “Tờ nhượng ruộng đất” và giữa ông Nguyễn Phước N với ông Nguyễn Trung V thể hiện bằng “giấy chuyển nhượng quyền sử dụng ruộng” .
Công nhận cho ông Nguyễn Trung V quyền sử dụng đất thửa số 23 (chiết thửa mới thực đo gồm 98-1 diện tích 2384,4m2 và 98-2 diện tích 445,2m2) tờ bản đồ số 1 loại đất LUC và toàn bộ cây trồng trên đất tọa lạc ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
Ông Nguyễn Trung V có quyền và nghĩa vụ kê khai, đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử đất trên theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.
Ngày 02/5/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Trung H kháng cáo đề nghị tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm, để giải quyết lại;
Ngày 22/5/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần Bản án sơ thẩm theo hướng: “Bổ sung nội dung tranh chấp - hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; bổ sung nội dung quyết định của Bản án - chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Hồ Thanh T (công nhận toàn bộ thửa đất số 23 cho ông V, bà T); đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông V, bà T về việc buộc ông H phải bồi thường giá trị 58 cây chuối là 3.770.000 đồng”.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sửa một phần Bản án sơ thẩm theo hướng: Xác định thêm nguyên đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Trung V và bà Hồ Thanh T và công nhận toàn bộ thửa đất số 23 cho ông V, bà T; Đình chỉ xét xử sơ thẩm đối với yêu cầu của ông V, bà T về việc buộc ông H phải bồi thường giá trị 58 cây chuối là 3.770.000 đồng (do đã rút).
Nguyên đơn kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm, nhưng không đưa ra được những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm, ngoài ra nguyên đơn còn cho rằng diện tích đất đang có tranh chấp là do nguyên đơn cho bị đơn mượn canh tác nhưng cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
[1]. Ngoài các yêu cầu khởi kiện về tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản thì bị đơn còn có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn được cấp nhưng trong phần nhận định của Bản án Tòa án cấp sơ thẩm không xác định “yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
[2]. Diện tích đất 2384,4m2 thửa 98-1 và diện tích 445,2m2 thửa 98-2 là tài sản chung của vợ chồng ông Nguyễn Trung V và bà Hồ Thanh T. Bà T cũng có Đơn yêu cầu độc lập nội dung như ông V đã yêu cầu (bút lục 169, 170) nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ công nhận cho một mình ông V được quyền sử dụng diện tích đất nêu trên là có thiếu sót. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm ông V đề nghị tòa án cấp phúc thẩm tuyên cho cả bà T được quyền sử dụng chung diện tích đất này là phù hợp với quy định của pháp luật.
[3]. Xét các thiếu sót nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm không ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án nên cần chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh sửa Bản án sơ thẩm đối với các thiếu sót nêu trên.
[4]. Riêng đối với yêu cầu phản tố của bị đơn đề nghị buộc nguyên đơn ông Nguyễn Trung H phải bồi thường giá trị 58 cây chuối là 3.770.000 đồng. Tại phần Quyết định của Bản án sơ thẩm đã tuyên: “Áp dụng Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Đình chỉ xét xử đối với phản tố của ông Nguyễn Trung V yêu cầu ông Nguyễn Trung H bồi thường 58 cây chuối bằng 3.770.000 đồng”. Nên kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng trong phần Quyết định của Bản án sơ thẩm không tuyên đình chỉ đối với yêu cầu phản tố đã rút nêu trên là không có căn cứ.
[5]. Xét tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn ông Nguyễn Trung H và người đại diện được ủy quyền cho rằng chữ ký của ông H trên “Tờ mua đất canh tác” lập ngày 09/3/1993 là không phải của ông H nên đề nghị trưng cầu giám giám định, nhưng trong suốt thời gian chuẩn bị xét xử sơ thẩm và phúc thẩm ông H không có yêu cầu đến khi mở phiên tòa phúc thẩm thì ông H mới có yêu cầu. Hơn nữa, tại Biên bản hoà giải lập ngày 23/11/2010 của Ủy ban nhân dân xã T (Bút lục 131), ông H đã xác định diện tích đất 1600m2 đất là của ông V. Căn cứ khoản 1 Điều 102 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu giám định tài liệu trên của ông H.
* Về nội dung:
[6]. Xét về nguồn gốc diện tích đất 2384,4m2 thửa 98-1 và diện tích 445,2m2 thửa 98-2 (thửa cũ là thửa 23) đang có tranh chấp, thấy rằng: Căn cứ vào lời trình bày của ông Lê Văn L1, ông Nguyễn Phước N, bà Nguyễn Thị Mỹ L2 và các giấy mua bán đất (Bút lục 110, 129) thể hiện: Ông V và ông H được cha, mẹ cho chung thửa 23 trong đó có phần ông H 1000m2, phần còn lại của ông V nhưng ông H đứng tên chung thửa đất. Ngày 30/6/1993, ông H lập giấy tay chuyển nhượng 1.000m2 đất trên cho ông Lê Văn L1 với giá là 5 chỉ vàng 24k. Sau đó ông L1 chuyển nhượng lại cho ông N. Đến năm 1996, ông N lập giấy tay chuyển nhượng lại diện tích 1.000m2 đất nêu cho ông V với giá 5,5 chỉ vàng 24k, ông V đã quản lý, sử dụng canh tác từ đó cho đến nay. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã công nhận các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất “Tờ mua đất canh tác” giữa ông Nguyễn Trung H với ông Lê Văn L1; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất “Tờ nhượng ruộng đất” giữa ông Lê Văn L1, bà Nguyễn Thị H1 với ông Nguyễn Phước N và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất “giấy chuyển nhượng quyền sử dụng ruộng” giữa ông Nguyễn Phước N với ông Nguyễn Trung V đối với diện tích 1.000m2 thuộc thửa 23 tọa lạc ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long hợp pháp là có căn cứ.
[7]. Năm 2010, giữa ông H và ông V đã xảy ra tranh chấp đối với diện tích đất nêu trên, được Ủy ban nhân dân xã T lập Biên bản hoà giải ngày 23/11/2010 (Bút lục 131) thể hiện nội dung:
- Ý kiến của ông V: Thống nhất cho ông H được sử dụng chiết thửa số 25 (6m x 26m); nhưng ông H phải trả lại 1600 m2 đất lúa do ông H đứng tên, số thửa 23; do trước đây có sai sót quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Ý kiến ông H: Thống nhất nhận 6m x 68m đồng thời khi quyền sử dụng đất được nhận lại từ ngân hàng thì ông H thống nhất cho ông V đo đạc tách thửa 1600m2 đất lúa chiết thửa 23 (thời điểm đó ông H và ông V thế chấp thửa 23 vay ngân hàng chia nhau sử dụng tiền vay).
[8]. Như vậy, có căn cứ xác định diện tích đất 1600m2 còn lại (theo giấy chứng nhận QSDĐ là 1620 m2) thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông V. Ông H cho rằng diện tích đất nêu trên là do ông H cho ông V thuê lại, nhưng ông H không có tài liệu, chứng cứ chứng minh.
[9]. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trung H đề nghị buộc ông Nguyễn Trung V và ông Nguyễn Trung H2 trả lại diện tích đất 2384,4m2 thửa 98-1 và diện tích 445,2m2 thửa 98-2; Buộc ông Nguyễn Trung V trả tiền thuê quyền sử dụng đất chưa thanh toán 43.500.000 đ (bốn mươi ba triệu, năm trăm nghìn đồng), là có căn cứ phù hợp với các chứng cứ khách quan có trong hồ sơ vụ án. Nên kháng cáo của nguyên đơn đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm là không có căn cứ chấp nhận.
[10]. Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn đề nghị hủy bản án sơ thẩm; Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, sửa một phần Bản án sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.
[11]. Án phí dân sự phúc thẩm: Do ông Nguyễn Trung H là người cao tuổi nên được miễn án phí.
[12]. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm của nguyên đơn ông Nguyễn Trung H.
Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Sửa một phần Bản án Dân sự sơ thẩm số: 04/2024/DS-ST ngày 22-4-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
Áp dụng Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 165, Điều 500 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, 101, 188 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận việc ông Nguyễn Trung V xin rút một phần yêu cầu phản tố đối với yêu cầu ông Nguyễn Trung H phải bồi thường 58 cây chuối bằng 3.770.000 đồng. Đình chỉ giải quyết đối với phản tố đã rút nêu trên của ông Nguyễn Trung V.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Trung H về các nội dung sau:
- Yêu cầu ông Nguyễn Trung V, Nguyễn Trung H2 trả lại quyền sử dụng đất thửa số 23 (chiết thửa mới thực đo gồm 98-1 diện tích 2384,4m2 và 98-2 diện tích 445,2m2) tờ bản đồ số 1 loại đất LUC tọa lạc ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
- Yêu cầu ông Nguyễn Trung V trả tiền thuê quyền sử dụng đất thửa 23 thời gian 29 năm bằng 43.500.000 đ (Bốn mươi ba triệu năm trăm ngàn đồng).
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Trung V đối với các yêu cầu sau:
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Trung H là người cao tuổi nên được miễn.
Công nhận các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất “Tờ mua đất canh tác” giữa ông Nguyễn Trung H với ông Lê Văn L1 ; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất “Tờ nhượng ruộng đất” giữa ông Lê Văn L1, bà Nguyễn Thị H1 với ông Nguyễn Phước N và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất “giấy chuyển nhượng quyền sử dụng ruộng” giữa ông Nguyễn Phước N với ông Nguyễn Trung V đối với diện tích 1.000m2 thuộc thửa 23 tọa lạc ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long là hợp pháp.
Công nhận cho ông Nguyễn Trung V và bà Hồ Thanh T được quyền sử dụng hợp pháp chung đối với đất diện tích 98-1 diện tích 2384,4m2 và 98-2 diện tích 445,2m2) tờ bản đồ số 1 loại đất LUC và toàn bộ cây trồng trên đất tọa lạc ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
Ông Nguyễn Trung V và bà Hồ Thanh T có quyền và nghĩa vụ kê khai, đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất nêu trên theo quy định của pháp luật đất đai (Theo Trích đo bản đồ địa chính kèm theo Bản án sơ thẩm).
Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 16729/QSDĐ cấp ngày 07/11/1991 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Cửu Long (nay là huyện M, tỉnh Vĩnh Long) cấp cho ông Nguyễn Trung H đối với thửa số 23, tờ bản đồ số 0001, diện tích 2.620 m2, loại đất 2 vụ lúa, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Nguyễn Văn Khương |
Bản án số 851/2024/DS-PT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 851/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Trung H kiện ông Nguyễn Trung V v/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
