|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 850/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 22/12/2023
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tiến.
Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Xuân Phương
2. Bà Mai Xuân Hoa
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Phi Nga - Thư ký Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lưu Thế Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 619/2023/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thu T, sinh năm 1990; Đăng ký thường trú: Số H phố T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Số C Ngõ F ngách D phố Đ, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1991; Đăng ký nhân khẩu thường trú: Số H phố T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Tổ A P, Trại giam N1, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam.
Tại phiên tòa có mặt chị T; anh T1 có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/4/2023 và tại các văn bản tố tụng tiếp theo nguyên đơn chị Trần Thu T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị xây dựng gia đình với anh Nguyễn Xuân T1 vào năm 2010 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận H, Thành phố Hà Nội ngày vào 09/4/2010. Cả hai anh chị đều kết hôn lần đầu. Quá trình chung sống đến năm 2011 anh T1 vi phạm pháp luật nên bị bắt và xử phạt 06 năm 04 tháng tù về tội đánh nhau gây mất trật tự, trong thời gian anh T1 đi chấp hành án chị ở nhà nuôi con, chăm sóc con một mình đến tháng 01 năm 2016 thì anh T1 ra tù, sau đó được khoảng hơn 01 năm anh T1 không chịu thay đổi sửa chữa, vẫn tiếp tục tụ tập bạn bè, chơi bời thường xuyên đi chơi qua đêm không về nhà. Chị đã bỏ qua và tha thứ nhiều lần nhưng anh T1 không chịu thay đổi mà tiếp tục cặp bồ cho đến khi phạm tội và bị bắt về tội mua bán trái phép chất ma túy, sau đó bị xử phạt 07 năm 06 tháng tù. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho chị với anh Nguyễn Xuân T1 để sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Xuân T1 có 01 con chung là Nguyễn Bảo N, sinh ngày 01/11/2010. Nếu ly hôn chị xin được nuôi con chung và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con, vì hiện nay anh T1 đang chấp hành hình phạt tù nên không có điều kiện để nuôi con, cũng như cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị làm kinh doanh tự do, thu nhập bình quân khoảng 7.000.000đồng/01 tháng.
Về tài sản chung, nhà đất ở, công sức đóng góp và nợ chung: Chị xác nhận vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Xuân T1 trình bày: Anh xây dựng gia đình với chị Trần Thu T vào năm 2010 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận H, Thành phố Hà Nội vào ngày 09/4/2010. Quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Nay chị T kiên quyết xin ly hôn, anh nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được như lúc đầu nên anh đồng ý ly hôn với chị Trần Thu T.
Về con chung: Anh, chị có 01 con chung là Nguyễn Bảo N, sinh ngày 01/11/2010. Ly hôn anh đồng ý để cho chị T nuôi dưỡng con chung. Hiện nay anh đang chấp hành án phạt tù nên đề nghị Tòa án tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con cho anh.
Về tài sản chung, nhà đất ở, công sức đóng góp và nợ chung: Anh xác nhận vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, chị T vẫn giữ nguyên các lời khai đã khai trước đây, xác định vợ chồng không còn tình cảm, không có hạnh phúc, không thể hàn gắn được nữa, chị kiên quyết xin được ly hôn để sớm ổn định cuộc sống. Về con chung chị xin được nuôi con chung và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nhà đất ở, công sức đóng góp và nợ chung: Chị T xác nhận vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà là đã tuân theo pháp luật, không vi phạm tố tụng. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn hiện đang đi chấp hành án tại Trại giam N1 - Bộ C, đã có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như xin vắng mặt tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn. Giao con chung cho chị T nuôi dưỡng và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh T1 cho đến khi có sự thay đổi. Anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về tài sản chung, nhà ở, công sức đóng góp, nợ chung các bên không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngày 01 tháng 11 năm 2023, anh Nguyễn Xuân T1 đã có bản tự khai và có đơn đề nghị vắng mặt trong quá trình tố tụng, do vậy Toà án không tiến hành hoà giải được, xin vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Xuân T1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Trần Thu T và anh Nguyễn Xuõn T1 là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận H, Thành phố Hà Nội ngày 29/9/2010 số 131 Quyển số 01 là phù hợp pháp luật, đây là hôn nhân hợp pháp. Về tình cảm vợ chồng và nguyên nhân mâu thuẫn: Chị T xác nhận vợ chồng sống hòa thuận đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T1 liên tục phạm tội dẫn đến nhiều năm phải đi chấp hành án nên tình cảm vợ chồng nhạt phai, đến nay xác định không còn tình cảm nên đề nghị được ly hôn nhằm giải phóng cho nhau và sớm ổn định cuộc sống. Anh T1 thì cho rằng vợ chồng không có mâu thuân gì nhưng anh đồng ý ly hôn vì mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị xảy ra nguyên nhân là do anh T1 vi phạm pháp luật nên vợ chồng không có hạnh phúc, hai bên không quan tâm gì đến nhau, chị T xin ly hôn thì anh T1 đồng ý. Do đó, xét vợ chồng anh chị không thể tiếp tục chung sống lâu dài với nhau được nữa, cả hai đều nhất trí ly hôn; vì vậy yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ nên được chấp nhận và phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Anh, chị có 01 con chung là Nguyễn Bảo N, sinh ngày 01/11/2010. Ly hôn anh chị thống nhất để chị T được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi có sự thay đổi khác.
[4] Về tài sản chung, nhà đất ở, công sức đóng góp và nợ chung: Anh, chị xác nhận không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
[5] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
[1]. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thu T đối với anh Nguyễn Xuân T1. Chị Trần Thu T được ly hôn anh Nguyễn Xuân T1.
[2]. Về con chung: Xác nhận anh chị có 01 con chung là Nguyễn Bảo N, sinh ngày 01/11/2010. Ly hôn giao cháu Nguyễn Bảo N cho chị Trần Thu T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T1 đến khi có sự thay đổi khác. Anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3]. Về tài sản chung, nhà ở, công sức đóng góp và nợ chung: Anh chị xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
[4]. Về án phí: Chị Trần Thu T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai thu tiền số 0013914 ngày 05/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
[5]. Án xử công khai, sơ thẩm. Chị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ./.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Văn T2 |
Bản án số 850/2023/HNGĐ-ST ngày 22/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 850/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án xin ly hôn
