trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 850/2024/DS-ST

Ngày: 20/8/2024

Về việc: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Minh Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Mỹ

2. Ông Hà Nguyễn Minh Nam

- Thư ký phiên tòa: bà Trần Minh Tâm – cán bộ Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích P - Kiểm sát viên.

Ngày 20/8/2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Tp. xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 839/2023/TLST-DS của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận ngày 12/10/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tiền” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 210/2024/QĐXX-DS ngày 22/7/2024, quyết định hoãn phiên tòa số 132/2024/QĐ-HPT ngày 06/8/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: 1. Bà Hồ Nguyễn Thiên H, sinh năm 1990

2. Ông Lê Văn Q, sinh năm 1978

Địa chỉ: Ấp C, P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện ủy quyền: Bà Huỳnh Phi Y (Giấy ủy quyền ngày 22/7/2023)(có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Bá H1 (có mặt)

Bị đơn: Bà Mai Cẩm T, sinh năm 1991

Địa chỉ: F N, Phường I, quận P, TP. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Anh T1, sinh năm 1987

Địa chỉ: F N, Phường I, quận P, TP. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Hồ Nguyễn Thiên H và ông Lê Văn Q do bà Huỳnh Phi Y là đại diện ủy quyền trình bày:

Bà Hồ Nguyễn Thiên H và bà Mai Cẩm T là bạn bè làm ăn đã lâu. Đầu năm 2022, bà T ngỏ ý muốn vay tiền bà H để mở shop quần áo. Do đó bà H đã cho bà T vay rất nhiều lần, theo hình thức: tiền mặt. Tổng số tiền bà H đã cho bà T vay là: 2.400.000.000 (hai tỷ bốn trăm triệu) đồng.

Ngày 13/07/2022, bà H và bà T chốt lại số nợ đã vay và thống nhất ký kết Hợp đồng vay tiền với các nội dung chính như sau:

  • Số tiền vay: 2.400.000.000 (hai tỷ bốn trăm triệu) đồng
  • Mục đích vay: Kinh doanh shop quần áo
  • Tài sản thế chấp: Không có
  • Thời hạn vay: 12 tháng, từ ngày 13/07/2022 đến ngày 13/07/2023
  • Phương thức vay: Tiền mặt
  • Về lãi suất: các bên thỏa thuận lãi suất cho toàn bộ số tiền vay theo quy định hiện hành của Nhà nước. Trước khi hợp đồng vay hết hạn, nếu bên B muốn tiếp tục vay thì phải báo trước 30 ngày và nhận được sự đồng ý của bên A.

Thực tế, bà H và bà T có thỏa thuận miệng lãi suất cho vay từ ngày 13/07/2022 - 13/07/2023 là 1,667%/tháng. Từ ngày 13/07/2022 - 13/11/2022, bà T đã trả cho bà H 04 tháng tiền lãi, mỗi tháng 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng, 4 tháng là: 160.000.000 (một trăm sáu mươi triệu) đồng - theo mức lãi suất 1,667%/tháng. Từ ngày 13/12/2022 đến nay bà T không trả lãi nữa.

Đến hạn trả nợ, bà H nhiều lần liên hệ bà T yêu cầu bà T trả số nợ gốc 2.400.000.000 (hai tỷ bốn trăm triệu) đồng và số tiền lãi còn thiếu của 8 tháng (Tính từ ngày bà T vi phạm nghĩa vụ trả lãi ngày 13/12/2022 đến ngày 13/07/2023) theo mức lãi suất 1,667%/tháng là 320.000.000 (ba trăm hai mươi triệu) đồng nhưng bà T tắt điện thoại.

Đối với ông Võ Anh T1 - chồng bà Mai Cẩm T, trong đoạn tin nhắn zalo ngày 23/02/2023, nick zalo tên Anh T1 - Gạo Lúa hay S (số điện thoại đăng ký: 0938.761.xxx do ông Võ Anh T1 sử dụng) nhắn cho bà H có nội dung "Có hướng giải quyết hết rồi, bán xe của nó, trả cho em trước, anh bỏ tiền lấy ra, xong bán... Anh đã hứa với em, anh giải quyết cho em, có bao giờ anh làm em thất vọng đâu". Theo đó nguyên đơn đã khởi kiện yêu cầu ông Võ Anh T1 thực hiện đã cam kết trả nợ thay cho vợ trong trường hợp bà T không có khả năng trả.

Tuy nhiên, bà T và ông T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với bà H và ông Q, do vậy, nguyên đơn đề nghị Tòa án:

  • T2 buộc bà Mai Cẩm T trả cho bà H2 Nguyễn Thiên H và ông Lê Văn Q số tiền nợ gốc: 2.400.000.000 (hai tỷ bốn trăm triệu) đồng và số tiền lãi là 682.666.000 (sáu trăm tám mươi hai triệu sáu trăm sáu mươi sáu ngàn) đồng tương ứng với 17 tháng 02 ngày nợ lãi (lãi suất: 1,667%/tháng, tiền lãi mỗi tháng: 40.000.000 đồng). Thời hạn tính lãi được tính từ ngày T vi phạm nghĩa vụ trả lãi là 13/12/2022 đến ngày 15/5/2024).
  • Tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi mà bà Mai Cẩm T phải trả là: 3.082.666.000 (ba tỷ không trăm tám mươi hai triệu sáu trăm sáu mươi sáu ngàn) đồng, yêu cầu bà Mai Cẩm T trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ông Võ Anh T1 mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ và nhận trực tiếp các thông báo tại Tòa án, tuy nhiên không có ý kiến trình bày đối với quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tiền giữa nguyên đơn ông Q, bà H và bị đơn bà T.

Tại phiên hòa giải ngày 18/7/2024, đại diện ủy quyền của nguyên đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện: Do việc vay nợ chỉ do 1 mình bà Mai Cẩm T thực hiện giao dịch, vì vậy nguyên đơn rút lại yêu cầu buộc ông Võ Anh T1 cùng liên đới trả nợ. Vì vậy đề nghị Tòa án không đưa ông T1 vào tham gia tố tụng tại vụ án này. Sau khi đối chiếu số tiền đã trả, các bên thỏa thuận số tiền gốc mà nguyên đơn yêu cầu bà Mai Cẩm T phải trả là 1.800.000.000 (một tỷ tám trăm triệu) đồng, không tính tiền lãi.

Bị đơn bà Mai Cẩm T trình bày: xác nhận là đã ký Hợp đồng vay tiền ngày 13/7/2022 với bà Hồ Nguyễn Thiên H và ông Lê Văn Q như phía nguyên đơn trình bày. Bà T đã có nhiều lần trả tiền cho bà H, tuy nhiên không nhớ số tiền đã trả và những lần đã trả tiền, cũng không có ghi lại số tiền đã trả. Các bên đã xác nhận số tiền bà T còn nợ bà H và ông Q là 1.800.000.000 (một tỷ tám trăm triệu) đồng, không tính tiền lãi. Bà T đề nghị được trả cho bà H số tiền mỗi tháng là 10.000.000 (mười triệu) đồng, bắt đầu từ tháng 01/2025 cho đến khi hết nợ. Tiền vay này là khoản vay riêng của bà T để lấy vốn mua bán quần áo, không liên quan đến chồng bà T là ông Võ Anh T1, vì thực tế vợ chồng bà đã ly thân từ khoảng 6 năm nay.

Tại phiên tòa;

Người bảo vệ quyền và lợi ích của nguyên đơn và đại diện ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu xác định tại phiên hòa giải ngày 18/7/2024: rút lại yêu cầu buộc ông Võ Anh T1 cùng liên đới trả nợ; số tiền gốc mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả là 1.800.000.000 (một tỷ tám trăm triệu) đồng, không tính tiền lãi, yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ số tiền nợ làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, nguyên đơn sẽ yêu cầu tính lãi kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015. Đề nghị tiếp tục duy trì việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Quyết định số 08/2024/QĐ-BPKCTT ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận để đảm bảo thi hành án.

Bị đơn giữ nguyên ý kiến về việc yêu cầu được trả dần mỗi tháng 10.000.000 (mười triệu) đồng cho đến khi hết nợ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã làm đúng và đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày tại phiên tòa, thì ngày 13/7/2022, nguyên đơn bà Hồ Nguyễn Thiên H và bị đơn bà Mai Cẩm T ký kết Hợp đồng vay tiền, chốt lại số nợ bà T đã vay của bà H trước đó là 2.400.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 năm, không có tài sản đảm bảo, lãi suất theo quy định của nhà nước; quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, các bên chốt lại số nợ vay là 1.800.000.000 đồng, không tính lãi là có lợi cho bị đơn, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ số tiền nợ làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Đề nghị tiếp tục duy trì việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Quyết định số 08/2024/QĐ-BPKCTT ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận để đảm bảo thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn bà Hồ Nguyễn Thiên H và ông Lê Văn Q có đơn yêu cầu bị đơn bà Mai Cẩm T trả tiền nợ còn thiếu, đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thẩm quyền: Căn cứ đơn khởi kiện của bà Hồ Nguyễn Thiên H và ông Lê Văn Q; Hợp đồng vay tiền viết tay ngày 13/7/2022; Kết quả xác minh của Công an P1, quận P, thể hiện bà Mai Cẩm T, sinh năm 1991, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại F N, Phường I, quận P, TP., bà T có mặt tại Tòa án theo triệu tập của Tòa án, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về yêu cầu trả nợ gốc: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện nguyên đơn và bị đơn có ký hợp đồng vay tiền ngày 13/7/2022, số tiền vay gốc là 2.400.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 năm, không có tài sản đảm bảo, lãi suất theo quy định của nhà nước; quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, các bên chốt lại số nợ vay là 1.800.000.000 đồng, không tính lãi.

Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền nợ gốc 1.800.000.000 đồng là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Xét yêu cầu bị đơn trả tiền lãi: Trong hợp đồng vay tiền ngày 13/7/2022, các bên thỏa thuận lãi suất cho toàn bộ số tiền vay theo quy định hiện hành của Nhà nước. Quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, không tính lãi đối với số tiền vay là có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về thời hạn thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số nợ trên làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy: bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận trong Hợp đồng hai bên đã ký, thời gian vay đã lâu, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán khoản nợ trên làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là không trái quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468, Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Nguyễn Thiên H và ông Lê Văn Q:
    • - Buộc bà Mai Cẩm T có trách nhiệm trả cho bà H2 Nguyễn Thiên H và ông Lê Văn Q số tiền nợ là 1.800.000.000 (một tỷ tám trăm triệu) đồng.
    • - Thanh toán một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

    Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  2. Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 08/2024/QĐ-BPKCTT ngày 17/5/2024 đến khi Tòa án có quyết định thay đổi, hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
  3. Về án phí:

    Bị đơn Bà Mai Cẩm T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 66.000.000 (sáu mươi sáu triệu) đồng. Hoàn lại cho bà H2 Nguyễn Thiên H và ông Lê Văn Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 43.200.000 (bốn mươi ba triệu hai trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0022346 ngày 05/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải thi hành cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
  5. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

    Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Q.Phú Nhuận;
  • - CCTHADS Q.Phú Nhuận;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Minh Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 850/2024/DS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 850/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Hương cho bà Tú vay tiền. Bà Tú có trách nhiệm trả cho bà Hương số tiền nợ là 1.800.000.000 đồng. Thanh toán một lần ngay sau khi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger