Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 850/2024/HS-PT

Ngày 17 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn

Các Thẩm phán: 1/ Ông Nguyễn Đắc Minh

2/ Bà Trần Thị Thúy Hồng

Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Lê Tấn Cường, Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 17/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 713/2024/TLPT-HS ngày 05/8/2024. Do có kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Lê Thị D, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2024/HS-ST ngày 27/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Bị cáo bị kháng cáo: Quách Trần Khánh D1, sinh ngày 09/7/1994, tại Trà Vinh; Địa chỉ: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông Quách Dũng T, sinh năm 1968 và bà Trần Thị Thúy P, sinh năm 1969; Có vợ tên Phạm Thị Thanh L, sinh năm 1996 và có 02 con sinh năm 2022 và năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giam: 02/9/2023 (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thị Kim U, Văn phòng Luật sư Dương Văn Ô thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ (Có mặt).

Địa chỉ: 9 Khu Phố A, B, Thành phố B, Đồng Nai.

- Người bị hại: Ông Nguyễn Công T1, sinh năm 1986. Người đại diện hợp pháp: Bà Lê Thị D, sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ H, ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai (có đơn xin vắng mặt).

Người bảo vệ quyền lợi cho phía bị hại: Luật sư Nguyễn Hùng Q, Công ty luật trách nhiệm hữu hạn Hãng luật ROMA thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt).

Địa chỉ: 5 Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quách Trần Khánh D1 và chị Nguyễn Thị Ngọc H là vợ chồng nhưng đã ly hôn.

Khoảng 18 giờ ngày 01/9/2023, chị H tổ chức ăn nhậu tại nhà và có khoảng 6 người tham gia gồm có: Quách Trần Khánh D1, chị Phạm Thị Thanh L (vợ D1), chị Nguyễn Thị Ngọc H, Nguyễn Huy H1 (là em ruột H), anh Nguyễn Công T1, anh Đặng Thế H2 (bạn của D1).

Trong lúc uống rượu bia thì xảy ra mâu thuẫn giữa D1 và anh T1 vì anh T1 cho rằng D1 nhỏ tuổi, xưng hô “mày, tao” với anh T1. Anh T1 lấy 01 chén sành ném vào người anh D1 rồi cả hai dùng tay chân lao vào đánh nhau, trong lúc đánh nhau, anh T1 chạy về phía kệ bếp nhà chị H lấy con dao Thái Lan, cán màu đen đánh nhau với D1 thì được chị H và H1 can ngăn.

D1 đi ra xe ô tô Fortuner, biển số 60A-293.15 của D1 chở vợ con đi về nhà, trên xe gồm có vợ con D1 và anh H2 đi cùng. Chạy được một đoạn thì chị L thấy D1 đã say rượu và mất bình tĩnh nên chị L không cho D1 lái xe nữa mà kêu D1 dừng lại bên đường để trấn tĩnh lại.

Khoảng 5 phút sau T1 chạy xe ô tô bán tải hiệu Ford Ranger biển kiểm soát 60C-605.70 vượt qua xe D1 đang đậu, sau đó T1 cho xe lùi mạnh về phía sau đâm vào phần đầu xe của D1 gây hư hỏng nặng, lúc này D1 xuống xe và cầm theo 01 con dao tự chế dài khoảng 40cm để đánh nhau với anh T1, thấy vậy anh Đặng Thế H2 (là bạn của D1) đi chung xe giật lấy con dao tự chế của D1 ném vào trong lề đường, T1 điều khiển xe ô tô quay lại hướng ngược đầu xe của D1 rồi xuống xe xông vào đánh nhau với D1. Thức dùng 01 cây côn nhị khúc bằng gỗ đánh sượt qua vùng đầu của D1 (không gây thương tích). D1 lấy 01 con dao bấm để trong túi quần đâm liên tiếp nhiều nhát về phía anh T1 trúng vào tay, ngực, bụng. Sau đó, D1 lên xe bỏ đi, còn anh T1 lên xe ô tô của anh T1 và điều khiển chạy về nhà của chị H và đâm vào cổng trước nhà, gục xuống bất tỉnh. Chị H chở T1 đến Trung tâm y tế huyện X cấp cứu nhưng T1 đã tử vong. Sau khi chở vợ con về nhà, D1 đã đến Công an huyện X đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Công an thu giữ vật chứng là 01 con dao bấm bằng kim loại màu xám, dài 22,5cm; 01 cây côn nhị khúc bằng gỗ; 01 con dao tự chế, 01 số mảnh nhựa, 01 đôi dép nhựa màu đen.

Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số 2000/KL-KTHS ngày 07/9/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ, có nội dung:

Nguyễn Công T1 có các vết xây xát, bầm tím da rải rác không liên tục vùng mặt. Rách da, cơ ngực trái, mép vết gọn, tụ máu, rãnh thương trước ra sau xuyên vào lồng ngực. Tụ máu dưới da, cơ ngực trái. Trong khoang lồng ngực có nhiều máu loãng. Thủng thuỳ trên phổi trái. Rách bao màng tim mặt trước, trong bao màng tim có nhiều máu cục lẫn máu loãng, thủng cung động mạch chủ. Vết rách da, cơ cánh tay trái. Vết rách da, cơ cẳng tay trái. Nguyên nhân tử vong: Sốc mất máu do vết thương ngực trái thủng phổi, thủng cung động mạch chủ.

Tại Kết luận giám định số 6022/KL-KTHS ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Phân viện KHHS (C09B) tại Thành phố Hồ Chí Minh, có nội dung:

Trên con dao gửi giám định có dính máu người, của một nam giới. Kiểu gen của nam giới này trùng với kiểu gen của Nguyễn Công T1.

Tại Kết luận định giá tài sản số 8038/STC-HĐĐGTSTTHS ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng tỉnh Đồng Nai, có nội dung:

Giá trị các bộ phận hư hỏng của xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại Fortuner, M sơn: Bạc; Năm sản xuất: 2016; Biển số 60A-293.15 tại thời điểm xảy ra vụ án ngày 01/09/2023 là 37.370.680đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị D là đại diện hợp pháp của người bị hại Nguyễn Công T1 yêu cầu bồi thường số tiền 770.234.000đồng, gia đình bị cáo đã bồi thường khắc phục 50.000.000đồng.

Tại Cáo trạng số: 108/CT-VKS-P2 ngày 15/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, có nội dung:

Truy tố bị cáo Quách Trần Khánh D1 về tội “Giết người” quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2024/HS-ST ngày 27/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, đã tuyên xử:

1/ Tuyên bố bị cáo: Quách Trần Khánh D1 phạm tội “Giết người”. Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Quách Trần Khánh D1 08 năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày 02/9/2023.

2/ Áp dụng Điều 584, 585, 591 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Quách Trần Khánh D1 bồi thường số tiền cho đại diện gia đình bị hại bà Lê Thị D số tiền 342.863.300đồng, được trừ vào số tiền 50.000.000đồng gia đình bị cáo D1 đã nộp, theo biên lai thu tiền số 0000801 ngày 17/6/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Đồng Nai. Buộc bị cáo Quách Trần Khánh D1 tiếp tục bồi thường cho đại diện gia đình bị hại bà Lê Thị D số tiền 292.863.300đồng.

Buộc bị cáo Quách Trần Khánh D1 phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con bị hại chưa thành niên là cháu Nguyễn Thị Cẩm T2, sinh ngày 30/9/2008; cháu Nguyễn Lê Viết A, sinh ngày 20/6/2011, cháu Nguyễn Lê Ngọc Á, sinh ngày 09/5/2024 đến năm 18 tuổi và có khả năng lao động, thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày (bị hại chết) 02/9/2023, mức cấp dưỡng mỗi tháng 9.000.000đồng đối với 03 người con.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán số tiền nêu trên thì người phải thi hành án còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề về tang vật, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, phía người bị hại bà Lê Thị D làm đơn kháng cáo, nêu lý do:

Mức án sơ thẩm quá nhẹ, yêu cầu tăng án và tăng tiền bồi thường thiệt hại.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Phía bị hại đề nghị xét xử bị cáo khung hình phạt ở khoản 1 điểm n Điều 123 Bộ luật Hình sự vì cho rằng hành vi của bị cáo là hành vi mang tính chất côn đồ, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng là giết người. Đề nghị tăng mức án. Đối với số tiền bồi thường yêu cầu tăng số tiền tổn thất về tinh thần theo mức lương cơ sở được tính tại thời điểm xét xử phúc thẩm 2024.

Bị cáo cho rằng hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn xin được xem xét mức án nhẹ và bị cáo còn xác định rằng trong vụ án này có phần lỗi của người bị hại.

Luật sư bảo vệ cho phía người bị hại cũng thống nhất với phía đơn kháng cáo của bà D. Luật sư bào chữa cho bị cáo thì đề nghị xem xét yêu cầu của bị cáo, không chấp nhận kháng cáo của phía bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng, hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây hậu quả chết người. Tuy nhiên, trong quá trình xảy ra vụ việc thì có phần lỗi của phía người bị hại. Đây là lỗi nghiêm trọng của người bị hại vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử ở khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Đối với số tiền bồi thường thì các bên cũng đã thỏa thuận. Tòa án đã ghi nhận sự thỏa thuận tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị D; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, nghe bị cáo trình bày, nghe đại diện Viện kiểm sát và luật sư phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Lê Thị D làm trong hạn luật định, nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.

[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị D:

[2.1] Khoảng 22 giờ ngày 01/9/2023, trong lúc ngồi nhậu ở nhà chị H thì Nguyễn Công T1 và Quách Trần Khánh D1 có xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau, T1 cầm chén sành trên bàn ném vào người của D1. Sau đó, cả hai lao đều đánh nhau nhưng được can ra, D1 lái xe ô tô ra về. Trên đường đi thì D1 có chở vợ con về, T1 cũng lấy ô tô đuổi theo. Sau khi vượt lên xe D1, T1 lùi xe lại tông mạnh vào phần đầu của xe ô tô D1 làm móp đầu xe của D1 với thiệt hại được định giá xe ô tô bị hư hỏng là 37.370.680đồng.

T1 thách với D1 xuống xe để đánh nhau với T1. T1 dùng côn nhị khúc đánh lại D1 nhưng không trúng, D1 lấy trong túi quần một con dao bấm đâm trúng tay, bụng, ngực, của T1 làm T1 tử vong do sốc mất máu ở vết thương ngực trái, thủng phổi, thủng động mạch chủ.

[2.2] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Quách Trần Khánh D1 với tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của người khác, làm mất trật tự an ninh tại địa phương. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã có xem xét đến những tình tiết giảm nhẹ theo luật định, như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi xảy ra sự việc thì bị cáo đã ra đầu thú.

Trong vụ này cũng cần xét có phần lỗi của người bị hại, trong bàn nhậu đã dùng chén ném vào mặt, vào người của bị cáo. Khi bị cáo cùng vợ con chạy xe về thì bị hại đuổi theo bằng xe ô tô và dùng xe mình đụng vào đầu xe của bị cáo gây thiệt hại, lúc này trên xe có những đứa trẻ còn nhỏ tuổi, gia đình bị cáo sau khi xảy ra sự việc cũng đã bồi thường một phần cho gia đình bị hại. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm b điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo với mức án 8 năm tù là thỏa đáng. Phía bị hại yêu cầu tăng án vì cho rằng có hành vi côn đồ là không có căn cứ.

[2.3] Phía bị hại yêu cầu các khoản bồi thường về mai táng phí, bồi thường về tổn thất tinh thần, bồi thường và cấp dưỡng, các cái chi phí để cho vợ nạn nhân đi đẻ, sinh con. Tất cả các chi phí Tòa án cấp sơ thẩm đã ghi nhận sự tự nguyện của các bên là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, phía người bị hại yêu cầu tăng lên đối với số tiền bồi thường tổn thất về tinh thần, phía bị cáo cũng đồng ý với số tiền này. Hội đồng xét xử căn cứ vào sự thỏa thuận của các bên nên ghi nhận.

Như vậy, số tiền theo mức 100 tháng lương ở mức lương cơ sở là 1.800.000đồng x 100 = 180.000.000đồng, nay tại phiên tòa phúc thẩm các bên thỏa thuận 2.340.000đồng x 100 = 234.000.000đồng. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện nêu trên theo quy định của pháp luật, nên có cơ sở sửa bản án sơ thẩm về phần bồi thường này.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo D1 phải chịu theo luật định.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo D1, bà D không phải chịu.

[5] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.

Bởi các lẽ trên;

Căn cứ Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Lê Thị D.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Quách Trần Khánh D1 về việc tăng lên đối với số tiền bồi thường tổn thất về tinh thần cho phía bị hại.

Sửa một phần bản án sơ thẩm.

  1. Tuyên bố bị cáo: Quách Trần Khánh D1, phạm tội “Giết người”. Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Quách Trần Khánh D1 08 (tám) năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày 02/9/2023.
  2. Áp dụng Điều 584, 585, 591 Bộ luật Dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Quách Trần Khánh D1, bồi thường số tiền cho đại diện gia đình bị hại bà Lê Thị D số tiền: 170.234.000đồng (mai táng phí) + 234.000.000đồng (tổn thất tinh thần) + 80.000.000đồng (chi phí cho vợ bị cáo khi sinh con và chi phí đi lại) = tổng cộng là 484.234.000đồng, được trừ vào số tiền 50.000.000đồng gia đình bị cáo D1 đã nộp, theo biên lai thu tiền số 0000801 ngày 17/6/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Đồng Nai, nên bị cáo phải nộp tiếp số tiền bồi thường là Quách Trần Khánh D1 tiếp tục bồi thường cho đại diện gia đình bị hại bà Lê Thị D số tiền 434.234.000đồng.
  3. Bị cáo Quách Trần Khánh D1 phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con bị hại chưa thành niên là cháu Nguyễn Thị Cẩm T2, sinh ngày 30/9/2008; cháu Nguyễn Lê Viết A, sinh ngày 20/6/2011, cháu Nguyễn Lê Ngọc Á, sinh ngày 09/5/2024 đến năm 18 tuổi và có khả năng lao động, thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày (bị hại chết) 02/9/2023, mức cấp dưỡng mỗi tháng 9.000.000đồng đối với 03 người con.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Quách Trần Khánh D1 phải nộp số tiền 21.369.000đồng.
  2. Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Quách Trần Khánh D1, bà Lê Thị D không phải chịu.
  3. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao.
  • - VKSNDCC tại Tp. HCM.
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai.
  • - TAND tỉnh Đồng Nai.
  • - Công an tỉnh Đồng Nai.
  • - Trại TG Công an tỉnh Đồng Nai.
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Nai.
  • - Những người tham gia tố tụng.
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai.
  • - Lưu VP; HS vụ án, TK: TPQ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÊ HOÀNG TẤN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 850/2024/HS-PT ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (giết người)

  • Số bản án: 850/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự Phúc thẩm (Giết người)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án sơ thẩm về phần bồi thường thiệt hại, ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger