Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

T THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 85/2024/DS-ST

Ngày: 31/7/2024

“V/v: Tranh chấp đòi lại giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Lưu Triều

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đỗ Văn Hoà
  2. Bà Đặng Thị Ngọc Diệu

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Châu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Thuận – Kiểm sát viên.

Từ ngày 30 đến ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 275/2023/TLST-DS ngày 05/10/2023 về việc “Tranh chấp về đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2024/QÐST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 156/2024/QÐST–DS ngày 04 tháng 7 năm 2024 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Á – sinh năm: 1969

Địa chỉ: khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện theo ủy quyền của bà Á: Ông Kim Ngọc D – sinh năm: 1998

Địa chỉ: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bích T - sinh năm: 1969

Địa chỉ: khu phố H, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Huỳnh Vũ Mai V – sinh năm: 1974
  2. Địa chỉ: khu phố Long Sơn, phường Mũi Né, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận

  3. Ông Nguyễn Văn T1 – sinh năm: 1972
  4. Địa chỉ: khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

    Đại diện theo ủy quyền của ông T1: Ông Kim Ngọc D – sinh năm: 1998.

    Địa chỉ: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

  5. Bà Nguyễn Thị B – sinh năm: 1972
  6. Địa chỉ: khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

    Đại diện theo ủy quyền của bà B: ông Võ Thanh T2 – sinh năm: 1985

    Địa chỉ: khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Vắng mặt bà T, các đương sự có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 27/7/2023 của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện của nguyên đơn ông Kim Ngọc D đều trình bày:

Cụ Nguyễn Thị H là chủ sử dụng thửa đất số 73, tờ bản đồ số 12, diện tích 814,4 m², tại phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 181985, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00151 ngày 11/8/2005.

Cụ Nguyễn Thị H, có 03 người con tên Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị Á và Nguyễn Văn T1, Cụ H qua đời vào ngày 30/3/2014 và thửa đất nói trên vẫn chưa chia thừa kế theo quy định của pháp luật. Khi gia đình tiến hành làm thủ tục chia di sản thừa kế thì không thấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ H, qua tìm hiểu thì được biết, bà Huỳnh Vũ Mai V là vợ của Nguyễn Văn T1 (con dâu cụ H) đã lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ H để cầm cố cho bà Nguyễn Thị Bích T vay tiền.

Sau khi phát hiện thì gia đình đã nhiều lần liên hệ với bà T và yêu cầu bà T giao trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình nhưng bà T liên tục né tránh và cố tình không giao trả.

Nên bà Á làm đơn khởi kiện yêu cầu bà T trả lại cho gia đình Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 181985, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00151, do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 11/8/2005, đứng tên chủ sử dụng Nguyễn Thị H.

Tại bản tự khai bị đơn bà Nguyễn Thị Bích T trình bày:

Năm 2012 bà Huỳnh Vũ Mai V có mượn của bà T 150.000.000 đồng, đến 17 tháng bà V không có tiền trả lãi nên bà V tính tổng cộng 102.000.000 đồng tiền lãi và cộng tiền vốn là bà V thiếu tất cả 252.000.000 đồng, đến nay 2013 cũng không trả lãi đồng nào. Tôi mong quý cấp trên giải quyết thỏa đáng cho tôi, khi vay có đưa tôi cuốn sổ đỏ đứng tên bà H.

Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Vũ Mai V trình bày:

Trước đây tôi và ông Nguyễn Văn T1 là vợ chồng, chúng tôi sống tại nhà mẹ chồng tên là Nguyễn Thị H. Khoảng năm 2012, khi nhà cửa xập xệ mẹ chồng tôi có đưa cuốn sổ đỏ để đi vay tiền về làm nhà cho nên tôi mới cầm sổ đỏ để đi vay tiền của chị T 150.000.000 đồng, số tiền vay về mục đích để sữa nhà và chi tiêu trong gia đình. Nhưng sau khi vay không có tiền trả lãi nên có viết giấy xác nhận nợ tiền lãi 102.000.000 đồng.

Khi vay tiền của bà T có giao sổ đỏ đứng tên của mẹ chồng cho bà T giữ. Nay bà Á kiện thì tôi có ý kiến như sau, số tiền này vay về lúc vợ chồng đang chung sống thì vợ chồng cùng trả mỗi người một nữa.

Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B và ông Võ Thanh T2 đại diện cho bà B trình bày:

Cụ Nguyễn Thị H, có 03 người con tên Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị Á và Nguyễn Văn T1, cụ H qua đời vào năm 2014, khi còn sống cụ H có tạo dựng được thửa đất số 73, tờ bản đồ số 12, diện tích 814,4 m², tại khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD181985 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 11/8/2005 và thửa đất này vẫn chưa chia thừa kế theo quy định của pháp luật.

Khi gia đình tiến hành làm thủ tục chia di sản thừa kế thì không thấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó thì được biết, bà V là con dâu cụ H đã lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cầm cố cho bà T vay tiền.

Nên đề nghị Tòa án buộc bà T trả lại cho gia đình Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD181985 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 11/8/2005, sau đó gia đình sẽ giải quyết việc chia thừa kế theo quy định pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tại phiên tòa:

  1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

    Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

    Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

  2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, đồng thời chấp hành tốt nội quy phiên tòa. Bị đơn đã được tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng cố tình vắng mặt không có lý do nên việc xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.
  3. Ý kiến về việc giải quyết nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Nguyễn Thị Bích T phải trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 181985, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00151, do UBND thành phố P, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 11/8/2005, đứng tên Nguyễn Thị H cho bà Nguyễn Thị Á, ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị B.

Nếu bà Nguyễn Thị Bích T không giao trả bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà Nguyễn Thị Á, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị B được quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Á khởi kiện yêu cầu bị đơn là bà Nguyễn Thị Bích T trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 181985, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00151, do UBND thành phố P, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 11/8/2005, đứng tên Nguyễn Thị H cho gia đình bà Nguyễn Thị Á và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “Đòi lại tài sản” là chưa chính xác vì khoản 1 Điều 105 Bộ luật dân sự quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”.

Theo từ điển Tiếng Việt thì: vật là cái có hình khối mà con người có thể nhận biết được: vật báu, vật tuỳ thân, vật chướng ngại, đồ vật... hoặc vật là bộ phận của thế giới vật chất có thể đáp ứng nhu cầu của con người và con người có thể kiểm soát được.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một bộ phận của thế giới vật chất, được phát hành ra để đáp ứng nhu cầu của con người và con người có thể kiểm soát được. Cho nên nó cũng là một loại tài sản.

Điều 110 Bộ luật dân sự quy định về vật chính và vật phụ:

  1. Vật chính là vật độc lập, có thể khai thác công dụng theo tính năng.
  2. Vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là một bộ phận của vật chính, nhưng có thể tách rời vật chính.
  3. Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật chính thì phải chuyển giao cả vật phụ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Thửa đất số 73, tờ bản đồ số 12, diện tích 814,4 m², tại khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận là tài sản thuộc quyền sử dụng của cụ Nguyễn Thị H vì đã được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD181985 ngày 11/8/2005. Như vậy, thửa đất số 73, tờ bản đồ số 12, diện tích 814,4 m² là vật chính và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD181985 cấp ngày 11/8/2005 là vật phụ.

Điều 115 Bộ luật dân sự quy định quyền tài sản: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”.

Quyền sử dụng nói trên được trị giá được bằng tiền, còn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không trị giá được bằng tiền, nên quan hệ pháp luật có tranh chấp là “Tranh chấp đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Bị đơn có địa chỉ tại thành phố P nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị Bích T vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD181985 do UBND thành phố P cấp ngày 11/8/2005, Hội đồng xét xử xét thấy:

Cụ Nguyễn Thị H, có 03 người con là bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị Á và ông Nguyễn Văn T1. Cụ Nguyễn Thị H qua đời vào ngày 30/3/2014, khi còn sống Cụ Nguyễn Thị H có tạo dựng được thửa đất số 73, tờ bản đồ số 12, diện tích 814,4 m², tại khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD181985, do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 11/8/2005, vào ngày 10/4/2012 bà Huỳnh Vũ Mai V là vợ của Nguyễn Văn T1 (con dâu cụ H) lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ H để cầm cố cho bà Nguyễn Thị Bích T vay 150.000.000 đồng. Nên bà Á làm đơn khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Bích T trả lại cho gia đình Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD181985 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 11/8/2005, đứng tên chủ sử dụng Nguyễn Thị H.

Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều thừa nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 181985, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00151, do UBND thành phố P, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 11/8/2005, đứng tên Nguyễn Thị H đang do bà Nguyễn Thị Bích T chiếm hữu. Bà Nguyễn Thị Bích T cũng thừa nhận có giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cụ Nguyễn Thị H.

Khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự quy định những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.

Khoản 1 Điều 166 Bộ luật dân sự quy định về quyền đòi lại tài sản: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật”.

Điều 279 Bộ luật dân sự quy định về thực hiện nghĩa vụ giao vật:

  1. Bên có nghĩa vụ giao vật phải bảo quản, giữ gìn vật cho đến khi giao.
  2. Khi vật phải giao là vật đặc định thì bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó và đúng tình trạng như đã cam kết; nếu là vật cùng loại thì phải giao đúng số lượng và chất lượng như đã thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận về chất lượng thì phải giao vật đó với chất lượng trung bình; nếu là vật đồng bộ thì phải giao đồng bộ.
  3. Bên có nghĩa vụ phải chịu mọi chi phí về việc giao vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Khoản 1 Điều 356 Bộ luật dân sự quy định trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật: “Trường hợp nghĩa vụ giao vật đặc định không được thực hiện thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải giao đúng vật đó; nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng thì phải thanh toán giá trị của vật”.

Do bà Nguyễn Thị Bích T giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 181985, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00151, do UBND thành phố P, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 11/8/2005, đứng tên Nguyễn Thị H không có căn cứ pháp luật nên nay bà Nguyễn Thị Á yêu cầu bà Nguyễn Thị Bích T phải trả lại là có cơ sở chấp nhận.

[3] Xét yêu cầu của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bích T cho rằng bà Huỳnh Vũ Mai V có đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 181985, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00151, do UBND thành phố P, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 11/8/2005, đứng tên Nguyễn Thị H để bà Nguyễn Thị Bích T chiếm hữu là đảm bảo cho việc bà Huỳnh Vũ Mai V vay số tiền 150.000.000 đồng, tuy nhiên đây là hành vi pháp lý đơn phương, không được sự đồng ý của cụ Nguyễn Thị H, căn cứ theo Điều 309 Bộ luật dân sự cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai, quy địnhchứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.

Mặc khác, Điều 105 Bộ luật dân sự định: “1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.

2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”.

Như vậy, căn cứ vào các quy định pháp luật nêu trên, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sản mà là chứng thư pháp lý. Do không phải là tài sản nên không thể cầm cố.

[4] Về khoản vay giữa bà Nguyễn Thị Bích T với bà Huỳnh Vũ Mai V: Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Bích T không có yêu cầu phản tố, bà Huỳnh Vũ Mai V không có yêu cầu độc lập cho nên Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết chưa xem xét, vì vậy để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp trong việc vay tiền thì các đương sự được quyền khởi kiện vụ án khác là phù hợp với quy định tại Điều 200, Điều 201 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[4] Về án phí: Bị đơn bà Nguyễn Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại tiền án phí cho bà Nguyễn Thị Ánh .

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • - Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 200, Điều 201, Điều 228, Điều 233, Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự
  • - Điều 105, Điều 110; Điều 115, Điều 116, Điều 279, Điều 309, Điều 365 của Bộ luật Dân sự
  • - Khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai;
  • -Điểm a, khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 26/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Á về việc “Tranh chấp đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” với bị đơn bà Nguyễn Thị Bích T.

    Buộc bà Nguyễn Thị Bích T phải trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 181985, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00151, do UBND thành phố P, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 11/8/2005, đứng tên Nguyễn Thị H cho bà Nguyễn Thị Á, ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị B.

    Nếu bà Nguyễn Thị Bích T không giao trả bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên thì bà Nguyễn Thị Á, ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị B được quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 28 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự và các quy định khác của pháp luật.

  2. Về án phí:

    Bị đơn bà Nguyễn Thị Bích T phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Nguyễn Thị Á không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Á số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0018788 ngày 05/10/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

  3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (31/7/2024), các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận :

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP Phan Thiết;
  • - UBND phường Đức Long;
  • - THA dân sự TP Phan Thiết;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN LƯU TRIỀU

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 85/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger