Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HS-ST

Ngày: 31/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc

Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Lài

Ông Nguyễn Ngọc Cang

Ông Trần Văn Việt

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín - Thư ký Tòa án nhân dân.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Khuất Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 25, 31 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 77/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, đối với:

Bị cáo: Lê Đình S, sinh năm 1985 tại Lâm Đồng; Thường trú: 20/10 thôn P, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Lê Đình Đ (sinh năm 1957) và bà Lê Thị H (sinh năm 1957); có vợ là Hoàng Thị Phương T (sinh năm 1987) và 01 con sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt tạm giam theo Quyết định truy nã của Công an B2 ngày 25/3/2024, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B2. (có mặt)

Nhân thân:

  • - Bản án số 93/2010/HSST ngày 09/12/2010 của Toà án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xử phạt Lê Đình S 06 (S1) tháng tù về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999, nộp 05 triệu đồng sung quỹ nhà nước.
  • - Bản án số 01/2011/HSST ngày 07/01/2011 của Toà án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xử phạt Lê Đình S 07 (B) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.

(Chấp hành xong hình phạt tù của 02 bản án trên ngày 01/9/2011, thi hành xong hình phạt bổ sung và án phí)

  • - Bản án số 205/2023/HS-PT ngày 28/12/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt Lê Đình S 12 (Mười hai) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự (bị bắt ngày 13/11/2022). Đang chấp hành án tại trại giam A tỉnh Khánh Hòa.

* Người bào chữa: Luật sư Nguyễn Vũ Khánh D – Công ty L1, Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)

* Bị hại:

  1. Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1976. Địa chỉ: tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (có mặt)
  2. Ông Nguyễn Thành T1, sinh năm 1981. Địa chỉ: thôn L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo hồ sơ vụ án và theo diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1.1. Diễn biến sự việc và kết quả điều tra:

Đầu năm 2020, Lê Đình S từ tỉnh Lâm Đồng đến tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sinh sống nhưng không có tiền. Do cần tiền tiêu xài, S khai được một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) ở thành phố B hướng dẫn thủ đoạn gian dối để tìm cách chiếm đoạt tài sản, tiền của người khác bằng cách truy cập vào các trang mạng xã hội đặt mua giấy tờ giả (Chứng minh nhân dân, Sổ Hộ khẩu) rồi đem giấy tờ giả này thuê xe ô tô tự lái của người khác nhằm mục đích chiếm đoạt xe. Do không tìm mua được giấy tờ giả nên S được người đàn ông nêu trên đặt mua giúp 01 Sổ Hộ khẩu giả và Giấy chứng minh nhân dân giả đứng tên Trần Công T2 (sinh ngày 24/3/1984; nơi thường trú: Tổ A, ấp N, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) nhưng dán hình ảnh của S vào. Ngày 03/03/2020, S mang giấy tờ giả đến liên hệ với ông Nguyễn Thành T1 (sinh năm 1981; trú tại Khu phố L, thị trấn L, huyện L) thuê 01 xe ô tô tự lái để chiếm đoạt luôn chiếc xe. Tin tưởng là thật nên ông T1 không cầm giữ giấy tờ của S mà làm hợp đồng cho S thuê chiếc xe ô tô Toyota Fortuner biển số 72A-096.70 đứng tên ông T1 trong thời gian 10 ngày với giá 8 triệu đồng rồi giao xe và và bản sao giấy Chứng nhận đăng ký xe cho S mà không biết thực chất đã bị S lừa dối chiếm đoạt luôn chiếc xe.

Sau khi chiếm đoạt được chiếc xe ô tô của ông T1, S điều khiển xe ra tỉnh Khánh Hòa rồi được người đàn ông nêu trên đặt mua giúp 01 giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô giả số seri 054233 do Phòng CSGT Công an tỉnh B2 cấp ngày 02/12/2019 đứng tên Nguyễn Thành T1 chủ xe 72A-096.70 và 01 Giấy chứng minh nhân dân giả số [...] đứng tên Nguyễn Thành T1 nhưng dán hình ảnh của S vào để đem xe và giấy tờ giả cầm cố nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của người nhận cầm cố. Ngày 06/03/2020, S đem xe ô tô 72A-096.70 cùng các giấy tờ giả đến liên hệ cầm cố cho ông/bà Nguyễn Thanh L - Nguyễn Thị N (trú tại Tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa). Tin tưởng là thật nên ông/bà L - N nhận cầm cố xe (kèm giấy tờ giả) với giá 400 triệu đồng mà không biết thực chất đã bị S lừa dối chiếm đoạt số tiền này để tiêu xài cá nhân.

Kết luận định giá tài sản số 58/KL-HĐĐGTS ngày 13/07/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L xác định giá trị còn lại của xe ô tô hiệu Toyota Fortuner biển số 72A-096.70 là 520 triệu đồng.

Các Kết luận giám định số 103/KLGĐ-PC09-TL ngày 30/07/2021 và 39/KL-KTHS-TL ngày 09/04/2024 của Phòng K Công an tỉnh B2 xác định Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả số 054233 và Giấy chứng minh nhân dân số [...] đều là giả.

Qua đánh giá kết quả điều tra về diễn biến hành vi, động cơ mục đích của Lê Đình S, xét thấy:

- Đối với hành vi sử dụng giấy tờ giả lừa dối chiếm đoạt chiếc xe Toyota Fortuner biển số 72A-096.70 của ông Nguyễn Hồng T3: Quá trình điều tra, S khai rõ do hành vi, thủ đoạn đặt mua giấy tờ giả (Chứng minh nhân dân, Sổ Hộ khẩu) rồi sử dụng giấy tờ giả để ký hợp đồng giả cách thuê xe ô tô tự lái nhưng thực chất S có động cơ, mục đích chiếm đoạt chiếc xe ô tô của ông T3. Do đó, hành vi này của S đủ yếu tố cấu thành các tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

- Đối với hành vi sử dụng giấy tờ giả lừa dối chiếm đoạt 400 triệu đồng của ông/bà Nguyễn Thanh L - Nguyễn Thị N: Quá trình điều tra, S khai rõ sau khi chiếm đoạt được chiếc xe của ông T3 thì S nảy sinh ý định làm giả giấy tờ xe, giấy tờ cá nhân để đem xe và giấy tờ giả cầm cố, mục đích để chiếm đoạt tiền của người nhận cầm cố. Để thực hiện hành vi này, S đã nhờ người đàn ông nêu trên đặt mua giúp 01 giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô giả số seri 054233 do Phòng CSGT Công an tỉnh B2 cấp ngày 02/12/2019 đứng tên Nguyễn Thành T1 chủ xe 72A-096.70 và 01 Giấy chứng minh nhân dân giả số [...] đứng tên Nguyễn Thành T1 nhưng dán hình ảnh của S vào. Sau đó, ngày 06/03/2020, S đem xe ô tô cùng các giấy tờ giả liên hệ cầm cố xe làm cho cho ông/bà Nguyễn Thanh L - Nguyễn Thị N tin tưởng là thật đã nhận cầm cố xe (kèm giấy tờ giả) với giá 400 triệu đồng mà không biết thực chất đã bị S lừa dối chiếm đoạt. Do đó, hành vi này của S đủ yếu tố cấu thành các tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 và điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Sau khi lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe của ông T1 và chiếm đoạt số tiền 400 triệu đồng của ông/bà L – Nhung thì S tiếp tục phạm tội khác và đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm ra Bản án số 205/2023/HS-PT ngày 28/12/2023 xử phạt 12 năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự, thời hạn tù tính từ ngày 13/11/2022 (BL167–171).

Ngày 13/12/2023, S bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ra Quyết định khởi tố bị can số 407/QĐ về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo các Điều 174, 341 Bộ luật Hình sự. Đến ngày 25/3/2024, S bị Cơ quan cảnh sát điều tra (PC02) Công an tỉnh B2 tiến hành bắt tạm giam để điều tra. Quá trình điều tra, S đã thừa nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe của bị hại T1 và chiếm đoạt 400 triệu đồng của bị hại L – Nhung như đã nêu trên và công nhận kết quả điều tra. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai các bị hại về bối cảnh, diễn biến sự việc, tài sản và số tiền chiếm đoạt; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ.

1.2. Vật chứng:

- Quá trình điều tra thu giữ 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân giả số [...] tên Nguyễn Thành T1; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả số 054233, biển số 72A-096.70 do Phòng CSGT Công an tỉnh B2 cấp ngày 02/12/2019 tên Nguyễn Thành T1. Đã chuyển theo hồ sơ vụ án.

- Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L thu giữ chiếc xe Toyota Fortuner biển số 72A-096.70 từ ông/bà L – N. Kết quả điều tra xác định xe của ông Nguyễn Thành T1 (đang thế chấp vay tại Ngân hàng V để đảm bảo khoản vay 420 triệu đồng theo Hợp đồng thế chấp ngày 03/01/2020) nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã Quyết định xử lý vật chứng số 24a/QĐ-ĐTTH ngày 15/7/2020 trả xe cho ông T1 theo quy định.

1.3. Phần trách nhiệm dân sự:

  • Bị hại Nguyễn Thanh L - Nguyễn Thị N yêu cầu bị cáo Lê Đình S bồi thường 400 triệu đồng. Bị cáo chưa bồi thường.
  • Bị hại Nguyễn Thành T1 sau khi nhận xe không yêu cầu bồi thường.

1.4. Các vấn đề khác có liên quan:

Đối với người đàn ông chưa rõ lại lịch giúp sức cho Lê Đình S và các đối tượng làm giả giấy tờ, tài liệu: Cơ quan cảnh sát điều tra (PC02) Công an tỉnh B2 đang tiếp tục truy xét, làm rõ. Khi nào đủ căn cứ sẽ xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.

2. Tại Cáo trạng số 51/CT-VKS-P2 ngày 19 tháng 3 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo Lê Đình S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

3. Tại phiên tòa trong bản luận tội vị đại diện Viện Kiểm sát đã nêu các tình tiết vụ án, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Lê Đình S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; đề nghị áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b khoản 3 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 đối với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Đình S 15 (Mười lăm) - 17 (Mười bảy) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (Ba) - 04 (B1) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; áp dụng Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt, tổng hợp bản án; xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Đình S bồi thường cho bị hại ông/bà Nguyễn Thanh L, Nguyễn Thị N 400.000.000 đồng.

4. Tranh luận và đối đáp tại phiên tòa:

4.1. Luật sư Nguyễn Vũ Khánh D phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với tội danh, Điều khoản truy tố, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo vì đầy đủ, đúng pháp luật. Bổ sung tình tiết giảm nhẹ: bị cáo dù đã có án và đang chấp hành án nhưng chưa có tiền án tiền sự theo quy định của pháp luật, hoàn cảnh gia đình khó khăn (BL39): cha mẹ anh chị em lao động tự do, thu nhập bấp bênh, trình độ học vấn thấp nên hạn chế nhận thức pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử lưu tâm cân nhắc, xem xét các nội dung, tuyên mức hình phạt phù hợp, khoan hồng dưới mức đề nghị của Viện Kiểm sát, để bị cáo sớm được trở về với gia đình, làm công dân có ích.

4.3. Bị cáo đồng ý với bào chữa của Luật sư, không bào chữa và tranh luận bổ sung.

4.4. Bị hại không có ý kiến tranh luận.

4.5. Không có ý kiến đối đáp, tranh luận bổ sung.

5. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin lỗi bị hại, thể hiện thái độ ăn năn hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sớm trở về làm công dân tốt có ích cho xã hội.

6. Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B2, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Đình S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:

Đầu năm 2020, Lê Đình S từ tỉnh Lâm Đồng đến tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sinh sống. Do cần tiền tiêu xài, S dùng thủ đoạn gian dối cung cấp thông tin thuê một người (không rõ lai lịch) qua mạng xã hội làm giả 01 Chứng minh nhân dân và 01 Sổ Hộ khẩu giả đứng tên Trần Công T2 (sinh ngày 24/3/1984; trú tại Tổ A, ấp N, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) nhưng dán hình ảnh của S vào, rồi mang giấy tờ giả thuê, nhưng thực chất là để chiếm đoạt 01 xe ô tô Toyota Fortuner biển số 72A-096.70 trị giá 520.000.000 đồng của ông Nguyễn Thành T1.

Sau khi lừa dối chiếm đoạt được chiếc xe của ông T1, S tiếp tục dùng thủ đoạn cung cấp thông tin thuê làm giả 01 giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 054233 do Phòng C Công an tỉnh B2 cấp ngày 02/12/2019 đứng tên Nguyễn Thành T1 và 01 Giấy chứng minh nhân dân giả số [...] đứng tên Nguyễn Thành T1 nhưng dán ảnh của S vào, rồi đem xe và giấy tờ giả cầm cố, nhưng thực chất là lừa đảo chiếm đoạt cho vợ chồng ông bà Nguyễn Thanh L, Nguyễn Thị N 400.000.000 đồng.

Tổng số tài liệu S làm giả là 4 (thu giữ được 2); tổng số tiền S lừa đảo chiếm đoạt hoàn thành là 920.000.000 đồng.

Như vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo Lê Đình S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự, và tội “Sử dụng liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự, đúng như truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Là công dân trưởng thành, phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, bị cáo nhận thức rõ quyền sở hữu hợp pháp về tài sản là khách thể được pháp luật bảo vệ, phải tôn trọng, mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân, trả nợ, bị cáo nhiều lần cố tình đưa ra thông tin gian dối khiến bị hại tưởng giả là thật về nhân thân bị cáo, về quyền sở hữu của bị cáo đối với xe ô tô, cho bị cáo thuê xe và bị chiếm đoạt xe ô tô, cầm cố xe ô tô và bị chiếm đoạt tiền với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt của nhiều bị hại là 920.000.000 đồng. Quá trình lừa dối, chiếm đoạt xe ô tô và tiền của các bị hại, bị cáo đã thuê người làm giả và sử dụng 02 Chứng minh nhân dân giả, 01 Sổ Hộ khẩu giả, 01 giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô gi, khiến bị hại tưởng giả là thật, giao xe ô tô và tiền theo yêu cầu của bị cáo, và bị chiếm đoạt.

Việc làm giả, sử dụng giấy tờ giả của bị cáo để lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở mức nghiêm trọng, đã xâm phạm hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính cơ quan nhà nước về con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác.

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến hoạt động quản lý hành chính và uy tín của cơ quan Nhà nước, tổ chức, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội nhiều lần với số tiền lớn, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho các tội. Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt với bản án có hiệu lực pháp luật bị cáo đang phải chấp hành thành hình phạt chung của nhiều bản án buộc bị cáo chấp hành.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tình tiết tăng nặng: “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi, giao trả một phần cho bị hại, quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

[5.1] Bị hại Nguyễn Thành T1 đã nhận lại xe ô tô bị chiếm đoạt trong vụ án, và không yêu cầu bồi thường.

[5.2] Bị hại Nguyễn Thanh L, Nguyễn Thị N yêu cầu bị cáo Lê Đình S hoàn trả 400.000.000 đồng. Bị cáo chưa bồi thường. Đây là yêu cầu hợp pháp nên buộc bị cáo Lê Đình S bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt, theo yêu cầu của bị hại.

[6] Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân giả số [...] tên Nguyễn Thành T1; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả số 054233, biển số 72A-096.70 do Phòng C Công an tỉnh B2 cấp ngày 02/12/2019 tên Nguyễn Thành T1.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo luật định.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình S phạm các tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

1.1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Đình S 14 (Mười bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1.2. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Đình S 03 (Ba) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

1.3. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của các tội buộc bị cáo Lê Đình S phải chấp hành là 17 (Mười bảy) năm tù.

1.4. Áp dụng khoản 1 Điều 56, điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt 12 (Mười hai) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm” tại Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật số 205/2023/HSP T ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng thành hình phạt chung buộc bị cáo Lê Đình S phải chấp hành là 29 (Hai mươi chín) năm tù, tính từ ngày 13/11/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự; buộc bị cáo Lê Đình S bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại vợ chồng ông bà Nguyễn Thanh L, Nguyễn Thị N 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về xử lý vật chứng:

Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án: 01 (Một) Giấy chứng minh nhân dân giả số [...] tên Nguyễn Thành T1; 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả số 054233, biển số 72A-096.70 do Phòng C Công an tỉnh B2 cấp ngày 02/12/2019 tên Nguyễn Thành T1.

4. Án phí sơ thẩm:

Bị cáo Lê Đình S nộp 20.200.000 đồng (Hai mươi triệu hai trăm nghìn đồng), gồm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

5. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (31/7/2024), bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh BR-VT;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh BR-VT;
  • - Công an tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh BR-VT;
  • - THAHS tỉnh BR-VT;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu (3): Văn phòng, Tòa Hình sự, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Bắc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về hình sự sơ thẩm: tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 85/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm: Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Đình S Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger