Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ UÔNG BÍ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HS-ST

Ngày 30 - 10 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Thái Quang Định.
  2. Bà Vũ Thị Xuyến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2024/TLST- HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Vàng Văn D, sinh ngày 13 tháng 6 năm 1997 tại huyện B, tỉnh Lào Cai; nơi cư trú: thôn C, xã M, huyện B, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: Giáy; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng Văn N và bà Sỉn Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo hiện tại ngoại tại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
  2. Bị hại: Chị Dương Thị T1, sinh năm 2004, địa chỉ: tổ E, khu C, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh (đã chết).

Đại diện hợp pháp của bị hại, đồng thời là đại diện theo uỷ quyền của đại diện hợp pháp của bị hại: anh Trương Văn Đ, sinh năm 1988; địa chỉ: thôn N, xã T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên toà (có lý do).

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Phạm Văn G, sinh năm 1983, địa chỉ: tổ D, khu B, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh., vắng mặt tại phiên toà (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vàng Văn D (có chứng chỉ vận hành máy thi công nền theo quy định) lái máy xúc thuê cho anh Phạm Văn G (sinh năm 1983; trú tại khu B, phường P, thành phố U) từ tháng 8/2023. Sáng ngày 18/11/2023, D điều khiển xe máy xúc đào bánh lốp nhãn hiệu Doosan màu vàng cam, biển kiểm soát (BKS) 14LA-0993, đi từ nhà anh G đến khu vực hồ Y để làm việc. Khoảng 06 giờ 55 phút cùng ngày, D điều khiển máy xúc theo hướng Quốc lộ A đi đường Y. Khi đi đến đoạn đường qua Đ, hồ Y, thuộc tổ A, khu T, phường P, thành phố U, đường hẹp, cong, cua vòng về phía bên trái theo chiều đi của D (đầu đoạn đường có biển báo cấm xe tải và xe máy chuyên dùng) thì gặp xe mô tô BKS 14Y1-397.76 do chị Dương Thị T1 (sinh năm 2004; trú tại khu C, phường P, thành phố U) điều khiển theo hướng ngược chiều với xe máy xúc của D. Do đường hẹp, cong cua, khuất tầm nhìn khi thấy máy xúc đi chiếm nhiều phần đường đột ngột đi tới, chị T1 xử lý tránh xe máy xúc thì bị trượt ngã văng xuống đường, bị bánh lốp xe máy xúc do D điều khiển chèn qua người. Hậu quả: chị T1 bị thương nặng, được đưa đi Bệnh viện cấp cứu, sau đó tử vong; xe mô tô 14Y1-397.76 bị hư hỏng.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U lập hồi 10 giờ 15 phút ngày 18/11/2023, kèm theo sơ đồ hiện trường thể hiện: hiện trường còn tương đối nguyên vẹn (người bị thương đã được đưa đi cấp cứu), khám nghiệm trong điều kiện trời sáng, không mưa. Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường Y, thuộc tổ A, khu T, phường P, thành phố U, mặt đường trải nhựa áp phan bằng phẳng, hướng đường cong, lòng đường rộng 5,45m, trên mặt đường không có vạch sơn. Lấy mép đường bên phải theo chiều đi của máy xúc (từ QL 18A đi hướng đường Y) làm mép đường chuẩn. Tại hiện trường để lại các dấu vết: Xe mô tô 14Y1-397.76 nằm dưới gầm máy xúc đổ nghiêng bên phải, trục lốp trước và sau của xe mô tô cách mép đường lần lượt là 0,85m và 1,85m. Máy xúc BKS 14LA-0993 dừng đỗ trên mặt đường, đầu quay hướng Y, đuôi máy xúc quay hướng Quốc lộ A; tâm trục lốp trước bên phải cách mép đường 0,15m; tâm trục lốp sau bên phải sát mép đường. Trên mặt đường nơi xảy ra tai nạn có đám mảnh vỡ của xe mô tô BKS 14Y1-397.76 và vết dầu loang trên mặt đường dài 5,4m, tâm cách mép đường 2,39m. Trên mặt đường để lại 02 vết cày trượt xước do xe mô tô 14Y1-397.76 tạo ra, hướng Y - Quốc lộ18: vết thứ nhất dài 7m, điểm đầu và cuối vết cách mép đường lần lượt là 3,55m và 1,9m; vết thứ hai dài 8,6m, điểm đầu cách mép đường 2,55m và cách điểm đầu vết trượt xước thứ nhất 6,15m, cuối vết là tâm trục xe mô tô BKS 14Y1-397.76.

Mở rộng hiện trường ghi nhận: tại vị trí đầu Đập 1 Y, sau vị trí xảy ra tai nạn 200m (hướng Quốc lộ A), có đặt biển báo ký hiệu P.106a “Cấm xe tải”.

Cơ quan điều tra đã tạm giữ: xe máy xúc đào bánh lốp BKS 14LA-0993, xe mô tô BKS 14Y1-397.76 và giấy tờ kèm theo; 01 đĩa CD có dữ liệu hình ảnh Camera giám sát được lắp đặt tại quán C của anh Trần Duy H thuộc tổ A, khu T, phường P, thành phố U ghi lại hình ảnh xảy ra vụ tai nạn giao thông.

Biên bản khám nghiệm xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 14Y1-397.76 thể hiện: hư hỏng toàn bộ phần đầu xe và thân xe; càng xe phía trước bị đẩy cong, gập hướng từ trước ra sau; dấu vết trượt xước ở đầu tay nắm tay lái bên phải.

Biên bản khám nghiệm máy xúc đào bánh lốp BKS 14LA-0993 thể hiện: có kích thước dài, rộng, cao của thân xe là (7.120 x 2.496 x 3.570)m. Dấu vết mài trượt hướng từ trước về sau ở các vị trí: mặt trong bánh lốp trước bên trái, trục cát đăng nối cầu trước của xe máy xúc, ốp sắt bảo vệ khớp nối giữa 2 trục, vị trí giữa cầu sau máy xúc và góc bên trái trục cầu phía sau.

Kết luận giám định tử thi số 311/KLGĐTT-TTPY ngày 23/11/2023 của Trung tâm Pháp y - Sở Y kết luận nguyên nhân chết của chị Dương Thị T1 do: sốc đa chấn thương, sốc mất máu không hồi phục do chấn thương bụng vỡ gan, tổn thương lách đã cắt lách, tụ máu thanh mạc dạ dày và sau phúc mạc hai bên, vết thương đại tràng. Nạn nhân không có thai, không tìm thấy E trong máu.

Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Vàng Văn D khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung trên. Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo ân hận về hành vi mình đã thực hiện và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại, gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Quá trình điều tra, đại diện hợp pháp của bị hại, đồng thời là đại diện theo uỷ quyền của đại diện hợp pháp của bị hại là anh Trương Văn Đ đã khai phù hợp với nội dung vụ án nêu trên. Về trách nhiệm hình sự, đại diện hợp pháp xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng, gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Văn G có lời khai phù hợp với nội dung vụ án nêu trên, Cơ quan điều tra đã trả lại anh G xe máy xúc đào bánh lốp BKS 14LA-0993, nay anh không có yêu cầu hay ý kiến gì thêm.

Tại Cáo trạng 1953/CT - VKSUB ngày 11/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố bị cáo Vàng Văn D về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vàng Văn D từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án; giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện B, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo Vàng Văn D 01 Chứng chỉ sơ cấp, số hiệu 0000011651 do Trường cao đẳng N1 – Bộ Q cấp ngày 10/9/2018 mang tên Vàng Văn D.

Bị cáo không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố U, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về việc định tội đối với bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan, bị cáo ân hận về hành vi mình đã thực hiện và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; lời khai của bị cáo còn phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, kết luận giám định tử thi cùng chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ 45 phút ngày 18/11/2023, tại khu vực đường Y, thuộc tổ A, khu T, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, Vàng Văn D (có chứng chỉ sơ cấp vận hành máy thi công nền) điều khiển xe máy xúc đào bánh lốp BKS 14LA-0993 chạy hướng hồ Y đi đường Y, là đoạn đường có biển báo cấm xe tải và máy chuyên dùng. Do D không chấp hành hệ thống biển báo hiệu đường bộ điều khiển máy xúc to, cồng kềnh chạy vào đường cấm, khi đến đoạn đường hẹp, cong, cua, khuất tầm nhìn gặp xe mô tô BKS 14Y1-397.76 do chị Dương Thị T1 điều khiển hướng ngược chiều, làm chị T1 phải xử lý tránh, trượt ngã xuống đường bị bánh lốp trước bên trái máy xúc do D điều chèn qua người. Hậu quả: chị T1 bị tử vong.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ cũng như sự an toàn của tính mạng, sức khoẻ và tài sản của người khác khi tham gia giao thông, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi vô ý, do hậu quả làm chết 01 người nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận.

  1. Về hình phạt:
    1. Hình phạt chính:

Về tính chất, mức độ phạm tội bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ cũng như sự an toàn của tính mạng, sức khoẻ của người khác khi tham gia giao thông. Vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, cũng thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số ít người, cư trú ở vùng núi, điều kiện còn nhiều khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị hại cũng có một phần lỗi do điều khiển xe mô tô đi đến đoạn đường cong cua, xử lý chưa đảm bảo an toàn nên đã trượt ngã nên bị cáo được hưởng tỉnh tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy căn cứ vào nhân thân của người phạm tội, đồng thời xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, do vậy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà xử phạt bị cáo hình phạt tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội là phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự.

  1. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  1. Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận tiền bồi thường của bị cáo và không có yêu cầu gì thêm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  2. Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ trong vụ án:

Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô BKS 14Y1-397.76 kèm theo giấy tờ xe cho đại diện hợp pháp của bị hại, xe máy xúc đào bánh lốp BKS 14LA-0993 kèm theo giấy tờ xe cho anh Phạm Văn G nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với 01 Chứng chỉ sơ cấp, số hiệu 0000011651 do Trường cao đẳng N1 – Bộ Q cấp ngày 10/9/2018 mang tên Vàng Văn D, Hội đồng xét xử thấy do không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên tuyên trả lại cho bị cáo.

  1. Về xử lý biện pháp ngăn chặn:

Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 298/LC - ĐTTH ngày 08 tháng 8 năm 2024 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số: 1070/QĐ – ĐTTH ngày 08 tháng 8 năm 2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố U áp dụng đối với bị cáo từ ngày 08 tháng 8 năm 2024 đến hết ngày 08 tháng 11 năm 2024, do bị cáo bị phạt tù, cho hưởng án treo nên căn cứ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định hủy Lệnh cấm đi khỏi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh nêu trên đối với bị cáo.

  1. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Vàng Văn D phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Vàng Văn D 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án, ngày 30 tháng 10 năm 2024.

Giao bị cáo Vàng Văn D cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện B, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo Vàng Văn D thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về xử lý biện pháp ngăn chặn:

Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự:

Huỷ bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 298/LC - ĐTTH ngày 08 tháng 8 năm 2024 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số: 1070/QĐ - ĐTTH ngày 08 tháng 8 năm 2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố U đối với bị cáo Vàng Văn D.

  1. Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại bị cáo Vàng Văn D 01 Chứng chỉ sơ cấp, số hiệu 0000011651 do Trường cao đẳng N1 – Bộ Q cấp ngày 10/9/2018 mang tên Vàng Văn D (Chứng chỉ sơ cấp lưu tại hồ sơ vụ án).

  1. Về án phí:

Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Danh mục án phí, lệ phí Toà án của Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Vàng Văn D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

  1. Quyền kháng cáo:

Căn cứ: Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo Vàng Văn D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Đại diện HP của bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Uông Bí;
  • - CQCSĐT Công an thành phố Uông Bí;
  • - CQTHAHS Công an thành phố Uông Bí;
  • - CQTHAHS Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai;
  • - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ (Công an thành phố Uông Bí);
  • - Chi cục THADS thành phố Uông Bí;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 85/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vàng Văn D - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger