TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 85/2024/DS-ST
Ngày: 30 tháng 8 năm 2024
V/v: “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Thủy
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Hồng Hải
- Ông Trần Trung Nam
- - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi - Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 147/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 05 năm 2024 về “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 147/2024/QÐST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đăng T, sinh năm 1981; Địa chỉ: tổ C, khối phố N, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. (Có mặt)
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu H; Địa chỉ: Số C L, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà, nguyên đơn là ông Nguyễn Đăng T trình bày:
Lò gạch Tuynen Vinh Thanh C tại địa chỉ xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng trước đây là của gia đình cha mẹ ông Nguyễn Hữu H, sau này giao cho ông H quản lý. Quá trình giao dịch mua bán, ông Nguyễn Đăng T trực tiếp giao nguyên liệu đất cho ông H và than cho chị gái ông H. Tuy nhiên cá nhân ông H là người chịu trách nhiệm thanh toán các khoản tiền cho ông T và xác nhận nợ với ông T. Cụ thể như sau:
Vào ngày 03/06/2021, ông Nguyễn Hữu H có nhập nguyên liệu đất của ông T về để sản xuất với tổng số tiền là 55.272.000 đồng. Đến ngày 18/03/2022, ông T có lấy gạch lần thứ 1 của ông H với số tiền là 5.150.000 đồng và ngày 29/03/2022, ông T có lấy gạch lần thứ 2 của ông H với số tiền là 3.090.000 đồng. Vậy, ông Nguyễn Hữu H còn nợ lại ông T số tiền là 47.032.000 đồng.
Vào ngày 14/04/2023, lò gạch Tuynen Vinh Thanh C có nợ tiền nguyên liệu than của ông Nguyễn Đăng T tổng số tiền là 65.800.000 đồng. Đến ngày 07/02/2024, ông Nguyễn Hữu H tiếp nhận là người đứng chịu trách nhiệm thanh toán tiền than cho ông Nguyễn Đăng T với số tiền là 65.800.000 đồng. Ông H có trả trước số tiền là 5.000.000 đồng tiền mặt và 15.000 viên gạch quy đổi gạch thành tiền mặt là 15.750.000 đồng. Vậy, ông H còn nợ ông T tổng số tiền than là 45.050.000 đồng.
Tổng cộng ông H nợ ông T số tiền là 92.082.000 đồng (chín mươi hai triệu không trăm tám mươi hai nghìn đồng) và cho đến nay ông H vẫn chưa trả số tiền còn nợ cho ông T.
Về ý kiến của ông Nguyễn Hữu H chỉ đồng ý trả số tiền là 80.000.000 đồng với phương thức trả nợ chia làm 10 kỳ, mỗi tháng ông H trả cho ông T số tiền 8.000.000 đồng, bắt đầu từ tháng 07/2024 thì ông T không đồng ý mà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H thanh toán cho ông T một lần số tiền 92.082.000 đồng, ông T không yêu cầu tính lãi.
Quá trình tham gia tố tụng bị đơn là ông Nguyễn Hữu H trình bày:
Đối với số tiền đất thì ông H xác nhận vào ngày 03/06/2021, ông H là đại diện lò gạch Tuynen V, ông H trực tiếp nhập nguyên liệu đất của ông T về để sản xuất, tổng số tiền là 55.272.000 đồng. Sau đó, vào các ngày 18/03/2022, ông T có lấy gạch lần thứ 1 với số tiền là 5.150.000 đồng; Ngày 29/03/2022, ông T có lấy gạch lần thứ 2 với số tiền là 3.090.000 đồng. Như vậy, ông H xác nhận còn nợ ông T số tiền đất là 47.032.000 đồng.
Đối với số tiền than thì vào ngày 14/04/2023, lò gạch Tuynen Vinh Thanh C nhập và có nợ tiền nguyên liệu than, tổng số tiền là 65.800.000 đồng. Đến ngày 07/02/2024, ông H tiếp nhận là người đứng chịu trách nhiệm thanh toán tiền than cho ông Nguyễn Đăng T với số tiền là 65.800.000 đồng. Ông H đã trả trước số tiền 5.000.000 đồng tiền mặt và 15.000 viên gạch quy đổi thành tiền là 15.750.000 đồng, tổng cộng là 20.750.000 đồng. Như vậy, số tiền ông H còn nợ ông T số tiền than là 45.050.000 đồng.
Tuy nhiên, do đất không làm được vì lò gạch gần khu dân cư bị dân tại địa phương phản ánh nên ông H muốn cả hai cùng phải chia sẻ thiệt hại. Ông H chỉ đồng ý trả số tiền là 80.000.000 đồng và do đang gặp khó khăn không có khả năng trả ngay toàn bộ số tiền nên đề nghị phương thức trả nợ chia làm 10 kỳ, mỗi tháng ông H trả cho ông T số tiền là 8.000.000 đồng, bắt đầu từ tháng 07/2024.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về nội dung:
- Về án phí:
Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đăng T về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền với bị đơn ông Nguyễn Hữu H là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Đồng thời bị đơn cư trú tại phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Nguyễn Hữu H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 277 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đăng T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Nguyễn Hữu H thanh toán số tiền 92.082.000 đồng, HĐXX thấy rằng: Căn cứ giấy viết tay trích từ vở học sinh ngày 03/06/2021; ngày 07/02/2024 và giấy viết tay trích từ vở học sinh thể hiện nội dung giao dịch trong khoảng thời gian từ ngày 26/12/2022 đến ngày 19/04/2023 do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án thì giữa nguyên đơn và bị đơn có quan hệ giao dịch mua bán nguyên liệu sản xuất với nhau. Tính đến ngày 29/03/2022 ông H nợ ông T số tiền nguyên liệu đất là 47.032.000 đồng và tính đến 07/02/2024 ông H nợ ông T số tiền nguyên liệu than là 45.050.000 đồng. Tổng cộng ông Nguyễn Hữu H còn nợ ông T số tiền là 92.082.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Hữu H xác nhận là đại diện lò gạch T1 có nợ ông Nguyễn Đăng T số tiền 92.082.000 đồng là đúng. Tuy nhiên, ông H cho rằng đất không làm được vì lò gạch gần khu dân cư bị dân tại địa phương phản ánh nên ông H muốn cả hai cùng phải chia sẻ thiệt hại và chỉ đồng ý trả số tiền là 80.000.000 đồng, chia làm 10 kỳ, mỗi tháng trả cho ông T số tiền là 8.000.000 đồng, bắt đầu từ tháng 07/2024 nhưng không được ông T đồng ý.
Xét ông Nguyễn Hữu H xác nhận là đại diện lò gạch Tuynen Vinh Thanh Châu nhưng khi xác lập các giao dịch dân sự với nguyên đơn bằng tư cách cá nhân và không phản đối việc còn nợ ông T số tiền là 92.082.000 đồng. Ông H cho rằng đất không làm được nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ chứng minh. HĐXX xét thấy giao dịch dân sự giữa các bên không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, việc nguyên đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả số tiền 92.082.000 đồng là chính đáng. Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, do vậy cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Hữu H có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Đăng T số tiền 92.082.000 đồng theo quy định tại Điều 280 của Bộ luật Dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, ông Nguyễn Đăng T không yêu cầu tính lãi nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Ông Nguyễn Hữu H phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Hữu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.604.100 đồng.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Đăng T số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 280 và Điều 468 Bộ luật dân sự;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH10 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Đăng T đối với bị đơn là ông Nguyễn Hữu H.
- Án phí Dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Hữu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.604.100 đồng (Bốn triệu, sáu trăm linh bốn nghìn, một trăm đồng).
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, người có người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều Điều 06, 07, 07a và 09 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Buộc ông Nguyễn Hữu H phải trả cho ông Nguyễn Đăng T số tiền 92.082.000 đồng (Chín mươi hai triệu, không trăm tám mươi hai nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Đăng T số tiền 2.302.050 đồng (Hai triệu sáu trăm linh bốn nghìn, không trăm năm mươi đồng) tạm ứng án phí DS-ST đã nộp theo biên lai thu số 0001234 ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Riêng bị đơn ông Nguyễn Hữu H vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Thủy |
Bản án số 85/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền
- Số bản án: 85/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H thanh toán cho ông T một lần số tiền 92.082.000 đồng, ông T không yêu cầu tính lãi
