|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 85/2024/HSST Ngày: 30-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Từ Quốc Thái Bình
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cao Xuân Quan
2. Ông Lê Ngọc Thơm
Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Mỹ Nga - Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Hoàng Kim Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
PHẠM MINH VƯƠNG;
Sinh năm: 1994, tại: Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố E, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Tiền án - Tiền sự: Không; Con ông: Phạm Văn B, sinh năm: 1961 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1964; Vợ con: Chưa có; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 03/6/2024; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2024 đến nay; Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thị xã L (Bị cáo có mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma tuý, vào khoảng 12 giờ ngày 03/6/2024, bị cáo Phạm Minh V đi bộ vào đường hẻm phía sau nhà thờ T1 thuộc khu phố E, phường T, thị xã L để tìm mua ma túy đá, khi đi bị cáo V mang theo 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm chai nhựa, ống hút nước và ống thủy tinh cong bị bể một đầu). Tại đây, bị cáo V gặp và mua của người đàn ông tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 tép ma túy đá với giá 200.000 đồng và 01 ống thủy tinh cong với giá 50.000 đồng. Đến khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày, khi bị cáo đến trước khu vực nhà nghỉ H thuộc khu phố E, phường T, thị xã L tìm nơi sử dụng, thì bị Đội Cảnh sát Kinh tế - Ma túy Công an thị xã L phát hiện, bắt quả tang; Thu giữ trên tay trái của bị cáo 01 hộp giấy màu trắng, đỏ, vàng, kích thước (3,5 x 6,5 x 15,5)cm, bên trong hộp giấy có 01 ống thủy tinh cong dài 12,5cm và 01 đoạn ống nhựa được hàn kín màu trong suốt, kích thước (0,9 x 03)cm, chứa tinh thể màu trắng; Thu giữ trên lưng quần phía trước bên trái của bị cáo 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa màu trong suốt, có nắp màu vàng đục 02 lỗ tròn, một lỗ gắn ống hút nước giải khát màu trắng, một lỗ gắn ống thủy tinh cong bị bể một đầu.
Tại Bản kết luận giám định số 613/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1654 gam; là Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ, gồm: Đối với 01 đoạn ống nhựa trong suốt đã cắt lấy mẫu cùng 0,1358 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 613; 01 hộp giấy màu trắng đỏ vàng, kích thước (3,5 x 6,5 x 15,5)cm; 01 ống thủy tinh cong kích thước chiều dài khoảng 12,5cm; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm: 01 chai nhựa trong suốt có gắn ống hút màu trắng và ống thủy tinh cong đã bị bể một đầu). Hiện Cơ quan CSĐT công an thị xã L đã chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi quản lý.
Tại bản cáo trạng số: 101/CT-VKSLG-HS ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Phạm Minh V, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Minh V và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Minh V, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Phạt bị cáo Phạm Minh V, mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
* Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì được niêm phong, còn nguyên vẹn số: 613 ngày 10/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 (một) hộp giấy màu trắng đỏ vàng, kích thước (3,5 x 6,5 x 15,5)cm; 01 (một) ống thủy tinh cong kích thước chiều dài khoảng 12,5cm; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm: 01 chai nhựa trong suốt có gắn ống hút màu trắng và ống thủy tinh cong đã bị bể một đầu).
- Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Minh V khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND thị xã La Gi truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
- Bị cáo Phạm Minh V không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND thị xã La Gi.
- Lời nói sau cùng của bị cáo Phạm Minh V: Bị cáo thấy được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội:
Tại tòa, bị cáo Phạm Minh V thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi đã truy tố. Xét, lời khai của bị cáo tại Tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên toà, đủ căn cứ để kết luận: Vào lúc 12 giờ 10 phút ngày 03/6/2024, tại trước khu vực nhà nghỉ H, thuộc khu phố E, phường T, thị xã L, bị cáo Phạm Minh V đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1654 gam ; là Methamphetamine để sử dụng cho bản thân, thì bị Đội Cảnh sát Kinh tế - Ma túy Công an thị xã L phát hiện bắt quả tang, thu giữ cùng tang vật. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo V khai nhận số ma túy mà lực lượng công an thu giữ là của bị cáo. Nguồn gốc số ma tuý này, do bị cáo mua của người đàn ông tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) tại đường hẻm phía sau nhà thờ T1 thuộc khu phố E, phường T, thị xã L, đang trên đường đi tìm nơi sử dụng, thì bị phát hiện bắt giữ như đã nêu trên.
Với hành vi tàng trữ trái phép 0,1654 gam; là Methamphetamine của bị cáo Phạm Minh V mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý, đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng số: 100/CT-VKSLG-HS ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Phạm Minh V về tội danh, điều luật áp dụng nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Minh V, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo cũng nhận thức được ma túy đá (M) là chất gây nghiện, là hiểm họa của con người và xã hội, tệ nạn ma túy không những xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, mà còn là nguyên nhân sản sinh ra nhiều loại tội phạm khác, nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện ngập của mình, bị cáo đã bất chấp tác hại của ma túy, cũng như sự trừng trị của pháp luật, đi mua ma tuý cất giấu trong người nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Minh V là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, để đảm bảo yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị tại địa phương, cũng như lập lại trật tự công cộng, cần phải xử lý nghiêm, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, cũng như để bị cáo có điều kiện cai nghiện, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Nhân thân tốt, chưa có tiền án - tiền sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), ngoài hình phạt chính bị cáo Phạm Minh V còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Xét, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định, là đối tượng nghiện, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 đoạn ống nhựa trong suốt đã cắt lấy mẫu cùng 0,1358 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 613 của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 hộp giấy màu trắng đỏ vàng, kích thước (3,5 x 6,5 x 15,5)cm; 01 ống thủy tinh cong kích thước chiều dài khoảng 12,5cm; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm: 01 chai nhựa trong suốt có gắn ống hút màu trắng và ống thủy tinh cong đã bị bể một đầu). Xét, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
[7] Về các vấn đề khác:
Đối với đàn ông tên T đã bán ma tuý cho bị cáo Phạm Minh V, có đặc điểm nhận dạng như bị cáo khai, do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo, ngoài ra không có thông tin gì khác, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã L không đủ căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý về hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo Phạm Minh V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố:
Bị cáo Phạm Minh V, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
[2] Xử phạt:
Bị cáo Phạm Minh V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/6/2024.
[3] Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì được niêm phong, còn nguyên vẹn số: 613 ngày 10/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 (một) hộp giấy màu trắng đỏ vàng, kích thước (3,5 x 6,5 x 15,5)cm; 01 (một) ống thủy tinh cong kích thước chiều dài khoảng 12,5cm; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm: 01 chai nhựa trong suốt có gắn ống hút màu trắng và ống thủy tinh cong đã bị bể một đầu). Hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã L, có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/7/2024, giữa Cơ quan CSĐT công an thị xã L và Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi.
[4] Về án phí:
Bị cáo Phạm Minh V phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Phạm Minh V có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Từ Quốc Thái Bình |
Bản án số 85/2024/HSST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 85/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạm minh vương
