|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HÓA TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 85/2023/HS-ST Ngày 29/11/2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Tư và bà Dương Thị Mai Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Đức Thiện – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Lê Chí Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2023/QĐXXST-HS ngày 16/11/2023, đối với các bị cáo:
- Hoàng Thị H, sinh năm 1984 tại Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Khóm T, T, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Tấn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị H1; Có chồng là Dương Văn T1 và có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2023 đến ngày 11/8/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện H. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Nguyễn Thị T2, sinh năm 1981 tại Quảng Trị; Nơi cư trú: Khóm D, T, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu A và bà Nguyễn Thị T3; Có chồng là Trương Quốc P và có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2023 đến ngày 11/8/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện H. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Quảng Trị trong vụ án khác.
Nhân thân: Ngày 13/10/2023 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Quảng Trị khởi tố về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Anh Ngô Văn H2, sinh năm 1983; Trú tại: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- + Anh Trần Đại T4, sinh năm 1991; Trú tại: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Hoàng Thị H và bị cáo Nguyễn Thị T2 có mối quan hệ bạn bè từ trước nên vào khoảng ngày 25/6/2023, H rủ T2 góp chung tiền với mục đích mua pháo đưa về huyện C bán lại để kiếm lời thì T2 đồng ý, T2 góp số tiền 3.250.000 đồng, số tiền này do H giữ. Khoảng 23 giờ ngày 28/6/2023, H liên hệ với 01 người phụ nữ không rõ lai lịch để mua 16 hộp pháo với giá 6.100.000 đồng, thỏa thuận điểm giao nhận pháo ở bãi đất trống tại thôn K, thị trấn L. Sau khi thỏa thuận xong, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74H1-162.46 đến nhà T2 và chở T2 cùng đi nhận pháo. Khi đi đến đoạn đường bê tông ở khóm K, thị trấn L thì gặp 02 người đàn ông đang đứng cạnh 01 xe mô tô phía bên phải đường. Biết là người giao pháo nên H dừng xe và hỏi “Pháo ở đâu?” thì một người đàn ông trả lời “Pháo ở trong bụi” và cầm 01 bao ni lon màu đen đi đến một bụi cây gần đó vứt bao ni lon xuống và nói “Pháo ở trong đó”; H ném số tiền 6.100.000 đồng xuống đường cho người đàn ông nhận. Khi 02 người đàn ông rời đi thì H và T2 đi đến bụi cây thấy có 02 bao ni lon màu đen nên xẻ ra phát hiện bên trong mỗi bao có 08 hộp pháo; tiếp đó, H và T2 lấy 02 bao ni lon màu đỏ lồng vào nhau rồi bỏ 08 hộp pháo cùng 02 bao ni lon màu đen vừa bị xé vào trong; lấy 03 hộp pháo bỏ vào trong ba lô màu ghi đen, 03 hộp pháo bỏ vào trong 02 bao ni lon màu đỏ được lồng vào nhau và 02 hộp pháo vào trong túi ni lon màu xanh, loại có quai xách (những đồ dựng pháo này do H chuẩn bị từ trước), sau đó H điều khiển xe chở T2 và số pháo nói trên về cất giấu tại bụi cây phía sau nhà T2. Trên đường về, H vứt chiếc điện thoại đã sử dụng để liên lạc với người bán pháo nhưng không nhớ rõ vị trí. Khoảng 05 giờ ngày 29/6/2023, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74H1-162.46 đến nhà T2 để xe ở đó và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74D1-405.59 chở T2 cùng số pháo đã cất giấu trước đó đến nhà H. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, T2 lấy bao ni lon màu xanh bên trong có 02 hộp pháo bỏ vào trong cốp xe; bao ni lon màu đỏ bên trong có 08 hộp pháo đặt vào hõm xe và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74D1-405.59 chở H ngồi phía sau ôm 01 ba lô bên trong có 03 hộp pháo và 01 bao ni lon màu đỏ bên trong có 03 hộp pháo (ba lô đặt lên trên bao ni lon) về khu vực
đường tránh thành phố Đ, thuộc thị trấn C, huyện C tìm người mua để bán lại kiếm lời. Vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 29/6/2023, tổ công tác Đồn biên phòng T5 phối hợp với các lực lượng chức năng làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát địa bàn, khi đến Km73+500 Quốc lộ I thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện H thì phát hiện Nguyễn Thị T2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, biển kiểm soát 74D1-405.59, chở Hoàng Thị H đang di chuyển trên Quốc lộ I theo hướng Lao Bảo đi Đ; ở hõm xe có 01 bao ni lon màu đỏ, trên yên xe tại vị trí giữa hai người có 01 ba lô màu ghi đen đặt trên 01 bao ni lon màu đỏ có dấu hiệu nghi vấn vận chuyển hàng cấm nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra.
Qua kiểm tra phát hiện cụ thể như sau:
- Ở hõm xe mô tô (giữa yên xe và tay lái): 02 bao ni lon màu đỏ có cùng kích thước 55cm x 36cm được lồng vào nhau, bên trong có 02 bao ni lon màu đen và 08 hộp giấy, mặt ngoài mỗi hộp có hoa văn nhiều màu sắc, ký hiệu C0845, bên trong mỗi hộp có các ống hình trụ tròn được liên kết với nhau, nghi là pháo hoa nổ.
- Trong cốp xe mô tô có 01 bao ni lon màu xanh, loại có 02 quai xách, kích thước 42cm x 40cm, bên trong có 02 hộp giấy, mặt ngoài mỗi hộp có hoa văn nhiều màu sắc, ký hiệu C0845, bên trong mỗi hộp có các ống hình trụ tròn được liên kết với nhau, nghi là pháo hoa nổ.
- Trong ba lô màu ghi đen, kích thước 45cm x 40cm x 19cm, có 03 hộp giấy, mặt ngoài mỗi hộp có hoa văn nhiều màu sắc, ký hiệu C0845, bên trong mỗi hộp có các ống hình trụ tròn được liên kết với nhau, nghi là pháo hoa nổ.
- Bao ni lon (H ngồi sau xe ôm): có 02 bao ni lon màu đỏ, cùng kích thước 55cm x 36cm được lồng vào nhau, bên trong có 03 hộp giấy, mặt ngoài mỗi hộp có hoa văn nhiều màu sắc, ký hiệu C0845, bên trong mỗi hộp có các ống hình trụ tròn được liên kết với nhau, nghi là pháo hoa nổ.
Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ, niêm phong 16 hộp giấy nói trên trong 01 thùng giấy các tông ký hiệu P.
Kết luận giám định số 655/KL-KTHS ngày 06/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật niêm phong trong thùng giấy có ký hiệu P gửi đến giám định là pháo hoa nổ, khối lượng 29,4kg.
Quá trình điều tra đã thu giữ và xử lý vật chứng:
- 15 hộp pháo được niêm phong trong 01 thùng giấy các tông, ký hiệu PT có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q.
- 04 bao ni lon màu đỏ cùng kích thước 55cm x 36cm; 02 bao ni lon màu đen không xác định được hình dạng, kích thước; 01 ba lô màu ghi đen, kích thước 45cm x 40cm x 19cm; 01 bao ni lon màu xanh, loại có quai xách, kích thước 42cm x 40cm.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Vision, màu sơn: đỏ nâu đen, biển kiểm soát 74D1-405.59; số khung: RLHJK0314NY561085; số máy: JK03E-2565440, xe đã qua sử dụng ; 01 Chứng thực bản sao đúng với bản chính Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 74 008113, do Công an huyện T cấp cho xe mô tô gắn biển kiểm soát 74D1-405.59, tên chủ xe: Trần Đại T4, địa chỉ: Q, T, T.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, biển kiểm soát 74H1- 162.46, màu sơn đỏ- đen, số máy 5C64187770, số khung RLCS5C6409Y187769, xe đã qua sử dụng (do anh Ngô Văn H2 tự nguyện giao nộp); 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 005295, biển số xe đăng ký 74H1-162.46, tên chủ xe Ngô Văn H2 do Công an H cấp ngày 07/11/2016.
Tại bản Cáo trạng số: 87/CT- VKSHH ngày 26 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Hoàng Thị H và Nguyễn Thị T2 về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.
- Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hoá đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị H và Nguyễn Thị T2 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Căn cứ điểm c khoản1 Điều 190; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự đối với Hoàng Thị H, xử phạt bị cáo từ 18 đến 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.
Căn cứ điểm c khoản1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Thị T2, xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy: 15 hộp pháo được niêm phong trong 01 thùng giấy các tông, ký hiệu PT có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q
- + Tịch thu tiêu hủy: 04 bao ni lon màu đỏ cùng kích thước 55cm x 36cm; 02 bao ni lon màu đen không xác định được hình dạng, kích thước; 01 ba lô màu ghi đen, kích thước 45cm x 40cm x 19cm; 01 bao ni lon màu xanh, loại có quai xách, kích thước 42cm x 40cm.
- + Trả lại cho anh Trần Đại T4: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Vision, màu sơn: đỏ nâu đen, biển kiểm soát 74D1-405.59; số khung: RLHJK0314NY561085; số máy: JK03E-2565440, xe đã qua sử dụng ; 01 Chứng thực bản sao đúng với bản chính Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 74 008113, do Công an huyện T cấp cho xe mô tô gắn biển kiểm soát 74D1-405.59, tên chủ xe: Trần Đại T4, địa chỉ: Q, T, T.
- - Trả lại cho anh Ngô Văn H2: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, biển kiểm soát 74H1- 162.46, màu sơn đỏ- đen, số máy 5C64187770, số khung RLCS5C6409Y187769, xe đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 005295, biển số xe đăng ký 74H1-162.46, tên chủ xe Ngô Văn H2 do Công an H cấp ngày 07/11/2016.
- Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Thị H và Nguyễn Thị T2 đã thừa nhận hành vi của mình đã thực hiện, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi truy tố: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai và tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở xác định:
Ngày 29/6/2023, tại K + 500 Quốc lộ I thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Quảng lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thị T2 và Hoàng Thị H đang vận chuyển 16 hộp pháo hoa nổ có khối lượng 29,4kg. Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận: Vào ngày 25/6/2023, bị cáo Hoàng Thị H và Nguyễn Thị T2 thỏa thuận mỗi người góp 3.250.000 đồng mua pháo hoa nổ để bán kiếm lời; Vì vậy, hành vi trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Bị cáo H có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình có xác nhận của ủy ban nhân dân thị trấn L nên cần áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo H.
Xét vai trò của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo cùng cố ý thực hiện hành vi, không có sự cấu kết chặt chẽ nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo H là người rủ rê, khởi xướng việc mua bán pháo kiếm lời; bị cáo T2 là đồng phạm giúp sức tích cực nên cần xem xét mức hình phạt của bị cáo H cao hơn bị cáo T2 là thỏa đáng.
Bị cáo T2 trong quá trình tại ngoại chờ giải quyết vụ án “Buôn bán hàng cấm” nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi “Vận chuyển hàng cấm” đã bị Cơ quan điều tra Công an huyện Đ tạm giam nên cần áp dụng khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Hàng Thị H3 được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự xử bị cáo H3 hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về xử lý vật chứng và tài sản liên quan đến vụ án:
- - Đối với số pháo hoàn lại sau giám định gồm: 15 hộp pháo được niêm phong trong 01 thùng giấy các tông, ký hiệu PT có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 04 bao ni lon màu đỏ cùng kích thước 55cm x 36cm; 02 bao ni lon màu đen không xác định được hình dạng, kích thước; 01 ba lô màu ghi đen, kích thước 45cm x 40cm x 19cm; 01 bao ni lon màu xanh, loại có quai xách, kích thước 42cm x 40cm là công cụ dùng vào việc phạm tội và vật không có giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Vision, màu sơn: đỏ nâu đen, biển kiểm soát 74D1-405.59; số khung: RLHJK0314NY561085; số máy: JK03E-2565440, xe đã qua sử dụng ; 01 Chứng thực bản sao đúng với bản chính Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 74 008113, do Công an huyện T cấp cho xe mô tô gắn biển kiểm soát 74D1-405.59, tên chủ xe: Trần Đại T4, địa chỉ: Q, T, T. Anh T4 cho bị cáo T2 mượn xe và không biết T2 dùng phương tiện để phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho anh Trần Đại T4
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, biển kiểm soát 74H1- 162.46, màu sơn đỏ- đen, số máy 5C64187770, số khung RLCS5C6409Y187769, xe đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 005295, biển số xe đăng ký 74H1-162.46, tên chủ xe Ngô Văn H2 do Công an H cấp ngày 07/11/2016. Anh H2 cho bị cáo H3 mượn xe, bị cáo H3 dùng phương tiện của anh H2 để phạm tội, anh H2 không biết nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho anh Ngô Văn H2.
Vật chứng và tài sản liên quan đang được Chi cục thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/11/2023.
[5] Về các vấn đề khác:
- Đối với người phụ nữ đã bán pháo và 02 người đàn ông giao pháo cho các bị cáo, Cơ quan cảnh sát điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ.
- Đối với anh Trần Đại T4 và anh Ngô Văn H2 cho các bị cáo mượn xe mô tô để phạm tội, anh T4 và anh H2 không biết các bị cáo sử dụng xe làm phương tiện để phạm tội nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với Hoàng Thị H.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Thị T2.
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị H và bị cáo Nguyễn Thị T2 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”;
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy số pháo hoàn lại sau giám định gồm: 15 hộp pháo được niêm phong trong 01 thùng giấy các tông, ký hiệu PT có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q. Hiện đang được Công an huyện H quản lý.
- Tịch thu tiêu hủy: 04 bao ni lon màu đỏ cùng kích thước 55cm x 36cm; 02 bao ni lon màu đen không xác định được hình dạng, kích thước: 01 bao ni lon màu xanh, loại có quai xách, kích thước 42cm x 40cm và 01 ba lô màu ghi đen, kích thước 45cm x 40cm x 19cm;
- Trả lại cho anh Trần Đại T4: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Vision, màu sơn: đỏ nâu đen, biển kiểm soát 74D1-405.59; số khung: RLHJK0314NY561085; số máy: JK03E-2565440, xe đã qua sử dụng ; 01 Chứng thực bản sao đúng với bản chính Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 74 008113, do Công an huyện T cấp cho xe mô tô gắn biển kiểm soát 74D1-405.59, tên chủ xe: Trần Đại T4, địa chỉ: Q, T, T.
- Trả lại cho anh Ngô Văn H2: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, biển kiểm soát 74H1- 162.46, màu sơn đỏ- đen, số máy 5C64187770, số khung RLCS5C6409Y187769, xe đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 005295, biển số xe đăng ký 74H1-162.46, tên chủ xe Ngô Văn H2 do Công an H cấp ngày 07/11/2016.
- Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Thị H và Nguyễn Thị T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày bản án được giao hoặc bản án được niêm yết.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị H 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/11/2023).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T2 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2023 đến ngày 11/8/2023.
Giao bị cáo Hoàng Thị H cho Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp bị cáo Hoàng Thị H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Vật chứng và tài sản liên quan đang ở tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/11/2023.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Ngọc |
Bản án số 85/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ về buôn bán hàng cấm (criminal case)
- Số bản án: 85/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị H cùng đồng phạm phạm tội Buôn bán hàng cấm
