|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 85/2024/HSST
Ngày 28/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Là và bà Cao Thị Hưng
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2024/TLST - HS ngày 02/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐXXST - HS ngày 12/8/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Trọng N; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20 tháng 10 năm 1979; Tại: xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Trọng T, sinh năm 1938; Con bà: Đoàn Thị Đ, sinh năm 1948. Vợ: Đinh Thị T1, sinh năm 1987 (đã chết) Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2019;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Bản án số 25/2021/HSST ngày 22/4/2021 của Toà án nhân dân huyện Đông Hưng xử phạt N 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, án phí HSST 200.000 đồng. Ngày 05/4/2022 N thi hành xong hình phạt tù, ngày 04/6/2021 thi hành xong phần án phí.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/5/2024 đến ngày 04/6/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh T.
( Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa)
Người chứng kiến: 1. ông Trần Duy T2, sinh năm 1973
2. ông Nguyễn Kiên C, sinh năm 1977
Cùng trú tại thôn H, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
(Ông T2, ông C đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến vụ án tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 31/5/2024, tại trục đường thôn H, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an xã L, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang Nguyễn Trọng N có hành vi tàng trữ trái phép tại túi quần bên trái đang mặc 02 gói nhỏ ma túy được gói bằng giấy kim loại màu trắng, bên trong chứa bột màu trắng dạng cục loại Heroin, có khối lượng 0,2432 (Không phẩy hai nghìn bốn trăm ba mươi hai gam)
Quá trình điều tra, truy tố Nguyễn Trọng N khai nhận: Do đua đòi bạn bè nên N có sử dụng ma túy loại Hêroin từ năm 2018. Khoảng 08 giờ 30 ngày 31/5/2024, N có đi bộ từ nhà ra trục đường xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình sau đó đi nhờ xe của một người không quen biết sang khu vực ngã tư xã T, huyện Đ với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi, N đi bộ tìm gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi dáng cao, gầy không rõ tên và địa chỉ đang đứng ở ven đường gần ngã tư, xã T, huyện Đ. Nhuệ lại gần và hỏi có ma túy H bán cho 400.000 đồng thì người đàn ông này nói có. N đưa tiền cho người này, người này cầm tiền và đưa cho N 02 gói nhỏ được gói bằng giấy kim loại màu trắng, N cầm và bỏ vào túi quần bên trái đang mặc, sau đó, đi nhờ xe của người đàn ông không quen biết để đi về. Khi đi đến trục đường thôn H, xã L thì N xuống xe đi bộ để tìm nơi sử dụng ma túy. Khi N đang đi bộ thì lực lượng công an xã L yêu cầu Nhuệ dừng lại vì nghi có liên quan đến ma túy. Lực lượng công an đã mời người chứng kiến là ông Trần Duy T2 và ông Nguyễn Kiên C đều trú tại thôn H, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình chứng kiến. Sau khi được nghe giải thích quyền và nghĩa vụ N đã khai rõ tên, tuổi, địa chỉ và tự nguyện giao nộp 02 gói ma túy vừa mua giao cho Tổ công tác. Tổ công tác đã quản lý, niêm phong 02 gói ma túy trong một phong bì thư, sau đó đưa N về Ủy ban nhân dân xã L lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trọng N tại thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
- Bản kết luận giám định số 779/KL-KTHS ngày 04/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu vật gửi giám định thu của Nguyễn Trọng N là ma túy, loại Heroin, có khối lượng là 0,2432 gam (Không phẩy hai nghìn bốn trăm ba mươi hai gam).
Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo; Cáo trạng số 81/CT-VKSĐH ngày 01/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ cáo trạng đã truy tố, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; phạt bị cáo mức hình phạt từ 01(một) năm 09 (chín) tháng tù đến 02 (hai) năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo đồng thời đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí.
Tại phiên tòa: Bị cáo xác định Cáo trạng truy tố bị cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng pháp luật vì vậy không trình bày lời bào chữa, cũng không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, điều luật áp dụng, mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị.
Khi nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo được sớm trở về với gia đình.
PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [ 1] Về hành vi quyết định tố tụng:
Các tài liệu chứng cứ do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ các quy định của pháp luật. Đó là các tài liệu hợp pháp chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Căn cứ vào các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [ 2] Về căn cứ xác định có tội, căn cứ xác định vô tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với Cáo trạng số 81/CT-VKSĐH ngày 01/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng; Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ lập hồi 09 giờ 20 ngày 31/5/2024 ; Bản kết luận giám định số 779/KL-KTHS ngày 04/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu vật gửi giám định thu của Nguyễn Trọng N; Lời khai của những người
chứng kiến: Ông Trần Duy T2 và ông Nguyễn Kiên C, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ, ngày 31/5/2024 tại trục đường thôn H, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình Nguyên Trọng N, có hành vi tàng trữ trái phép 0,2432 gam ma túy loại Heroine tại túi quần bên trái đang mặc với mục đích để sử dụng bị công an xã L phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội:“ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249.Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
- Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
- [3] Về tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh an toàn xã hội. Bản thân là người có nhân thân xấu, đã từng phải đi cải tạo về tội trộm cắp tài sản tuy nhiên khi chấp hành xong bản án về địa phương bị cáo, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là bất hợp pháp nhưng vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Vì vậy, việc đưa vụ án ra xét xử là cần thiết và cần áp dụng mét møcn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
- [4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
- [5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy tàng trữ ma túy để sử dụng, là lao động tự do không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do vậy không nhất thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- [6]Về xử lý vật chứng: Số ma túy loại heroine, thu giữ của bị cáo là chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
- [7]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- [8]Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định
Về nguồn gốc số ma túy N khai mua của người đàn ông không biết tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không xác định được nên không có căn cứ điều tra, xử lý.
Về nguồn gốc số tiền 400.000 đồng dùng vào việc mua ma túy là do bị cáo lao động mà có .
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt và điều luật áp dụng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng N 02(hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 31/5/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy 0,2159 gam ma túy loại heroine được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 779/KL-KTHS ngày 04/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 01/8/2024.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Trọng N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, ngày 28/8/2024.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hà Thị Nhung |
Bản án số 85/2024/HSST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 85/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trọng N
