TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 85/2024/HSST
Ngày: 26 - 8 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sinh
Thẩm phán: Ông Võ Văn Bình
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Khánh, ông Lê Quốc Ngưu và ông Phan Văn Minh
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nga - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Cường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 85/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Thanh H, sinh ngày 24 tháng 10 năm 1988 tại tỉnh Quảng Nam. Nơi cư trú: Thôn V, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Buôn bán tạp hóa; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H1 và bà Trần Thị H2; có chồng là Phạm Minh T và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 21/4/2023 và tạm giam cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh H: Bà Trần Thị M - Luật sư Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh G. Có mặt.
* Bị hại: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1978; địa chỉ: F P, phường Đ, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn D, xã P, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- - Bà Lê Thị T1, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- - Anh Phạm Minh T, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- - Chị Trương Thị L, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn B, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
1
- - Chị Phạm Hoài N, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn M, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- - Ông Lê Ngọc D, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn Đ, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- - Ông Rơ Lan T2, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2016 đến đầu tháng 12/2021, Nguyễn Thị Thanh H đã nhiều lần vay mượn tiền của bà Nguyễn Thị S dưới hình thức bốc góp để làm ăn và cho người khác vay lại. Quá trình vay mượn H đều trả tiền nợ lãi và nợ gốc đúng hẹn. Đến đầu tháng 12/2021 hai bên chốt nợ xác định H còn nợ bà S với tổng số tiền 150.600.000 đồng (Cả tiền gốc và tiền lãi).
Từ ngày 07/12/2021 đến ngày 27/12/2021, mặc dù không đáo hạn ngân hàng nhưng H đã nhiều lần trực tiếp đặt vấn đề với bà S hoặc gián tiếp thông qua bà Nguyễn Thị O (Sinh năm: 1993, trú tại: Thôn D, xã P, huyện I- em chồng của H) đưa ra thông tin gian dối cần vay tiền để làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng để tiếp tục vay tiền của bà S. Tin tưởng là thật, nên bà S đã chuyển số tiền 1.040.000.000 đồng vào tài khoản A số 5014205051614 của H và tài khoản A số 5014205056886 của bà O. Gồm những khoản tiền vay cụ thể như sau:
+ Đối với khoản vay 600.000.000 đồng: Đây là số tiền H và bà Lê Thị T1 (mẹ chồng H) cùng vay của bà S để cho người khác vay trả góp. Đến ngày 24/12/2021, bà T1 đưa tiền cho H để trả cho bà S thì H đặt vấn đề vay lại khoản tiền này của bà S. Thời điểm này H đang vay nợ nhiều người và vay của chính bà S nhưng không có tiền trả cho bà S. Tuy nhiên, H vẫn đưa ra thông tin gian dối cần vay tiền để cho người khác vay đáo hạn ngân hàng, làm bà S tin tưởng cho H vay số tiền 600.000.000 đồng, thời hạn 03 ngày. Đến ngày 28/12/2021, bà S yêu cầu H trả lại số tiền 600.000.000 đồng mà H đã vay trước đó thì H hẹn 03 ngày sau sẽ trả. Tuy nhiên, sau 03 ngày H đưa ra nhiều lý do để khất nợ. Đến ngày 05/01/2022, bà S tiếp tục yêu cầu H trả lại số tiền 600.000.000 đồng thì H viết giấy mượn tiền đề ngày 05/01/2022 có nội dung mượn của bà S số tiền 600.000.000 đồng hẹn ngày 17/01/2021 sẽ trả, có chữ ký của ông Phạm Minh T (chồng H).
+ Đối với khoản vay 440.000.000 đồng: Vào các ngày 10/12/2021, 24/12/2021 và 28/12/2021 H nhờ bà Nguyễn Thị O đặt vấn đề cần vay tiền để làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng để vay tiền của bà S giúp H. Thực tế bà Nguyễn Thị O không làm đáo hạn ngân hàng và không làm bốc góp. Nhưng khi được Nguyễn Thị Thanh H hướng dẫn và hứa hẹn trả tiền hoa hồng, lợi ích vật chất (tiền mua sữa, card nạp điện thoại) thì bà O đã đồng ý. Tin tưởng việc bà O đưa ra thông tin cần vay tiền để làm đáo hạn ngân hàng và chơi tiền góp là thật, bà S đã chuyển lần lượt số tiền 300.000.000 đồng, 100.000.000 đồng và 40.000.000 đồng vào tài khoản A của bà Nguyễn Thị O.
2
Đến hạn trả nợ, bà O nói toàn bộ số tiền vay của bà S đã chuyển cho bà H. Ngày 28/02/2022, bà S đến nhà tìm và yêu cầu H trả lại tiền thì bà H xác nhận bà O đã đứng ra vay tiền dùm H. H đã viết giấy nhận nợ đề ngày 05/01/2022, nội dung là H nợ bà S tổng số tiền 1.200.600.000 đồng (bao gồm tất cả các khoản nợ từ trước tới nay).
Tuy nhiên, căn cứ vào kết quả sao kê tài khoản xác định ngày 10, 24 và 28/12/2021 bà S chỉ chuyển cho vay bà O vay 03 lần tổng số tiền 440.000.000 đồng, sau đó bà O đã chuyển cho H tổng số tiền 424.000.000 đồng và bị H chiếm đoạt toàn bộ số tiền này (số tiền 16.000.000 đồng bà O giữ lại để chuyển trả lãi cho bà S). Như vậy, H chiếm đoạt của bà S thực tế là 440.000.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định, sau khi đưa ra thông tin gian dối về việc cần tiền vay để làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng thì H đã chiếm đoạt số tiền 1.040.000.000 đồng của bà S và sử dụng toàn bộ số tiền này vào mục đích cá nhân, trả nợ cho những người mà H đã nợ trước đó.
* Vật chứng thu giữ:
- - 07 quyển sổ.
- - 01 điện thoại di động, vỏ màu đen, mặt sau có dòng chữ “Redmi”.
- - 01 điện thoại di động N1 màu đen.
* Về dân sự: Bị hại Nguyễn Thị S yêu cầu Nguyễn Thị Thanh H trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt. Bị can chưa bồi thường.
Tại Cáo trạng số 79/CT-VKS-P1 ngày 06/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh H về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
2. Diễn biến phiên tòa:
- - Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- - Người bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có lời trình bày đúng như tình tiết có liên quan đến vụ án.
- - Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh H mức án từ 13 năm đến 14 năm tù.
Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị S số tiền 1.040.000.000 đồng.
Vật chứng của vụ án: Tịch thu bán sung ngân sách 01 điện thoại di động, vỏ màu đen, mặt sau có dòng chữ “R” và 01 điện thoại di động N1 màu đen.
Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.
3
- - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh H có quan điểm: Đồng ý với tội danh bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là người có nhân thân tốt,lần đầu phạm tội; sau phạm tội thành khẩn khai báo ăn năn hối cải áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
- - Bị cáo nhất trí như quan điểm luật sư bào chữa cho mình, không có ý kiến tranh luận gì thêm.
- - Bị hại bà Nguyễn Thị S nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Về trách nhiệm dân sự, yêu cầu bồi thường số tiền 1.040.000.000 đồng. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn điều tra, truy tố, các cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Thanh H khai nhận: Do vay mượn tiền của các cá nhân trước đó không có khả năng thanh toán, nên bị cáo đã đưa ra thông tin gian dối là cần tiền làm đáo hạn ngân hàng để nhiều lần vay của bà Nguyễn Thị S tổng số tiền 1.040.000.000 đồng rồi chiếm đoạt sử dụng cá nhân và trả nợ cho người khác.
Trong đó: Có khoản vay 600.000.000 đồng là do bị cáo H và bà Lê Thị T1 (mẹ chồng H) cùng vay của bà S để cho người khác vay trả góp. Đến ngày 24/12/2021, bà T1 đưa tiền cho H để trả cho bà S, nhưng H không trả mà nói dối với bà S cho vay lại khoản tiền này đáo hạn ngân hàng, hẹn 03 ngày nhưng không trả mà dùng tiêu xài cá nhân và trả nợ;
Đối với khoản vay 440.000.000 đồng thì bị cáo nói với bà Nguyễn Thị O cần vay tiền của bà S để làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng và nhờ O vay giúp, hứa trả tiền hoa hồng, lợi ích vật chất (tiền mua sữa, card nạp điện thoại) bà O tin tưởng nên đã đồng ý. Vào các ngày 10/12/2021; 24/12/2021 và 28/12/2021 bà O đưa ra thông tin cần vay tiền để làm đáo hạn ngân hàng và chơi tiền góp, làm bà S tin tưởng nên đã nhiều lần chuyển cho O vay tổng số tiền 440.000.000 đồng. Đến hạn trả nợ, bà S yêu cầu bà O trả nợ thì O nói toàn bộ số tiền vay là do H nhờ vay dùm và đã chuyển hết cho H. Ngày 28/02/2022, bà S đến nhà yêu cầu H trả thì bà H xác nhận số tiền 440.000.000 đồng là H nhờ bà O vay dùm, đồng thời H đã viết giấy nhận nợ bà S 1.200.600.000 đồng (cả các lần vay khác). Tuy nhiên quá trình điều tra, bà S và bị cáo H xác định số tiền vay chiếm đoạt của bà S 1.040.000.000 đồng.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ thu thập có tại hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để khẳng định: Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thanh H đã phạm tội “Lừa đảo
4
chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự mà bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy tố.
[3] Xét về tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Đây là vụ án bị cáo tội phạm có tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Bị cáo đã nhiều lần có hành vi đưa ra thông tin gian dối lừa bị hại để chiếm đoạt số tiền lớn, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, gây ảnh hường xấu đến trật tự trị an.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt.
Về hình phạt: Xét thấy bị cáo phạm vào tội đặc biệt nghiêm trọng và bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, chưa bồi thường khoản tiền nào cho bị hại, do đó, cần áp dụng mức án nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị S yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền chiếm đoạt 1.040.000.000 đồng, nên buộc bị cáo phải bồi thường.
[6] Về vấn đề khác:
- Đối với đơn của bà Trương Thị L (Sinh năm 1989; trú tại: Thôn B, xã I, huyện I, Gia Lai) tố giác Nguyễn Thị Thanh H có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản số tiền 317.000.000 đồng. Quá trình điều tra xác định đây là số tiền H nhận của bà L để cho người khác “bốc góp”. Nguồn gốc hình thành số tiền từ trả tiền góp, tiền lãi cộng dồn giữa H với bà L diễn tra trong thời gian dài và chốt lại. Ngày 23/5/2022 bà L biết việc H mua đất của ông Rah L1 H’Ngôn,, tuy giao dịch mua bán đất giữa H với ông Rah L1 H’Ngôn chưa thực hiện xong, nhưng bà L vẫn đồng ý thỏa thuận với H cấn lô đất H mua của ông Rah L1 H’Ngôn cho bà L để trừ nợ và H đã viết “giấy bán đất” cho bà L. Do vậy đây là tranh chấp quan hệ dân sự.
- Đối với ông Phạm Minh T (chồng H): Ngày 05/01/2022 ông T chở H đến nhà bà S để chốt nợ và ký vào giấy mượn tiền theo yêu cầu của bà S, bản thân ông T không đặt vấn đề, không đưa ra thông tin gian dối về việc vay mượn tiền của bà S, ông T không biết việc H vay tiền của bà S sử dụng vào mục đích gì. Ông T ký giấy mượn tiền là theo yêu cầu của bà S. Vì vậy, hành vi của ông Phạm Minh T không đồng phạm với bị can H về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Đối với hành vi của bà Nguyễn Thị O, khi được bị cáo H nhờ vay dùm tiền làm đáo hạn ngân hàng, O không biết bị cáo thực tế có còn làm đáo hạn hay không, nên O đã nhận lời vay dùm để hưởng hoa hồng. Toàn bộ số tiền vay được O đã chuyển cho bị cáo H chiếm đoạt. Tại phiên tòa xét xử lần thứ nhất Tòa án đã trả hồ sơ để làm rõ vai trò của O có đồng phạm với bị cáo H hay không. Qua kết quả điều tra bổ sung không có căn cứ để kết luận O đồng phạm cùng với H. Do đó không xử lý đối với O.
5
- Đối với bà Lê Thị T1 cùng với bị cáo H vay tiền của bà S. Tuy nhiên đến hạn trả nợ bà T1 đã đưa tiền vay cho bị cáo để trả cho bà S nhưng H đã thỏa thuận với bà S cho mượn lại. Việc bị cáo đã chiếm đoạt toàn bộ số tiền trên thì bà T1 không biết.
- Đối với số tiền 800.000.000 đồng bị cáo H trả nợ cho bà Phạm Hoài N là do bà N có quan hệ quen biết nhiều lần cho vay mượn tiền với hai mẹ con bà T1 và bị cáo H. Bà T1 và bị cáo H trả số tiền trên cho bà N diễn ra liên tục trong thời gian dài, trong thời gian này H còn vay mượn tiền của nhiều người để chơi bốc, góp xoay vòng trả nợ cá nhân, không xác định được đây có phải là tiền bị cáo vay chiếm đoạt của bà S để trả cho bà N hay không. Do vậy, không có căn cứ để truy thu.
[7] Về vật chứng:
Tịch thu bán sung ngân sách Nhà nước phương tiện phạm tội gồm: 01 điện thoại di động, vỏ màu đen, mặt sau có dòng chữ “R” và 01 điện thoại di động N1 màu đen.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh H 13 (Mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/4/2023.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phải bồi thường cho bị hại bà Nguyễn Thị S số tiền chiếm đoạt 1.040.000.000 đồng (Một tỷ không trăm bốn mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- - 01 điện thoại di động (loại Smart phone), màu đen, phía sau có dòng chữ “Redmi” màu trắng;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen. Đã sạc pin nhưng không lên nguồn điện nên không kiểm tra được nội dung bên trong.
6
Vật trên có đặc điểm ghi tại biên bản bàn giao vật chứng số 107/2024 lập ngày 07/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 43.200.000 đồng (Bốn mươi ba triệu hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm. Người có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định.
7. Về thi hành án dân sự:
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Sinh |
7
Bản án số 85/2024/HSST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 85/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh H 13 (Mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/4/2023.
