Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NINH HÒA
TỈNH KHÁNH HÒA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HNGĐ-ST

Ngày 26 tháng 7 năm 2024

V/v "Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết T

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn C

Bà Nguyễn Thị H

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức A - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh KH.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N, tỉnh KH không tham gia phiên tòa.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh KH xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 146/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024, giữa:

* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Á, sinh năm: 1952

Nơi cư trú: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1958

Nơi cư trú: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Á trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị T tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1978 đến tháng 6 năm 1995 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N. Thời gian chung sống cùng nhau, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó xảy ra nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên kình cãi. Bà T không quan tâm, chăm sóc ông những lúc đau ốm nên tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Ông bà đã không sống cùng nhau từ năm 2014 cho đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà T.

Về con chung: Ông và bà T có với nhau bảy con chung là Nguyễn Văn A – sinh năm 1979 (chết năm 2018), Nguyễn Thị T1 – sinh 1981, Nguyễn Thị Á – sinh 1984, Nguyễn Văn Đ – sinh năm 1987 (chết lúc 03 tuổi), Nguyễn Thị O - sinh năm 1990, Nguyễn Thị M - sinh năm 1993, Nguyễn Thị Thu L - sinh năm 1998. Các con chung đều đã thành niên, có gia đình riêng và không có con chung bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc mất khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông xin rút yêu cầu chia tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt, bị đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà có nhận được giấy triệu tập của Tòa án án nhưng vì tình hình sức khỏe đi lại khó khăn, không tới Tòa án làm việc được nên đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt bà. Bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Á và không có yêu cầu gì.

Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập được gồm: Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao); Giấy khai sinh các con (bản sao); Căn cước công dân Nguyễn Văn Á (bản sao).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án ly hôn. Bị đơn bà Nguyễn Thị T, cư trú tại: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn Á và bà Nguyễn Thị T tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1978 đến tháng 6 năm 1995 thì đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã N cấp giấy chứng nhận kết hôn số 32, ngày 06 tháng 6 năm 1995 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên kình cãi, không quan tâm, chăm sóc nhau những lúc đau ốm nên tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Vợ chồng đã không sống cùng nhau từ năm 2014 cho đến nay. Ông Á xác định không còn tình cảm với bà T nên yêu cầu được ly hôn, bị đơn bà Nguyễn Thị T cũng đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Á. Như vậy, có thể thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Á và bà T đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận và bền vững không đạt được; Yêu cầu xin ly hôn của ông Á là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

[3] Về con chung: Các con chung đều đã thành niên và không có con chung bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc mất khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản chung là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận. Do vậy, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu trên.

[5] Về án phí: Ông Nguyễn Văn Á phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị định số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí T2 án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn Á được ly hôn bà Nguyễn Thị T.
    2. Về con chung: Các con chung đều đã thành niên và không có con chung bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc mất khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét.
    3. Về tài sản chung, nợ chung: Đình chỉ yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản khi ly hôn của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Á.
  2. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị định số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toàn án, miễn nộp án phí cho ông Nguyễn Văn Á.
  3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND thị xã Ninh Hòa;
  • - Chi cục THADS thị xã Ninh Hòa;
  • - UBND xã Ninh Thọ (GCNKH số 32 ngày 06/6/1995);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Viết Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn

  • Số bản án: 85/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Ái - Nguyễn Thị Tư – Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger