|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 85/2024/HS-ST
Ngày: 26/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoa Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lương Công Hạnh
- Bà Đào Thị Ngâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Vũ Trang Nhi– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Tiền – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ công an thành phố T mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 90/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Hạnh N (tên gọi khác: Cu trục), sinh ngày 01/9/1973; Trú tại: H P, phường A, thành phố T, tỉnh Phú Yên; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: lớp 7/12; cha Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1947 và mẹ Trần Thị Hà Đ, sinh năm 1949; có vợ Nguyễn Thị H, sinh năm 1977 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2004; Tiền án: Bản án số 05/HSST ngày 18/3/1996, của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xử phạt 05 năm tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân, theo điểm a khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1985. Chấp hành xong ngày 04/11/1999; Bản án số 59/HSST ngày 23/11/2000 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân, theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1985. Chấp hành xong ngày 15/7/2003; Bản án số 69/HSST ngày 23/12/2004, của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, chấp hành xong ngày 09/3/2006; Bản án số 04/2009/HSST ngày 26/3/2009 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa xử phạt 07 năm tù về tội Cướp tài sản, theo điểm c khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999; Bản án số 103/2009/HSST ngày 29/8/2009, của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xử phạt 06 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, theo điểm b, c, e khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 04/2009/HSST, tổng hợp hình phạt chung là 13 năm tù; Bản án số 38/2009/HSST ngày 28/9/2009, của Toà án nhân dân huyện Tuy An xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tổng hợp hình phạt Bản án số 38/2009/HSST với Bản án số 103/2009/HSST, hình phạt chung là 15 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong án phạt tù ngày 24/9/2021; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-Người bị hại:
- Phan Ngọc L, sinh năm 1989. Địa chỉ: 2 P, phường A, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Nguyễn Quốc B, sinh năm 2002. Địa chỉ: 1 C, phường A, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
- Trương Huỳnh H1, sinh năm 1986. Địa chỉ: F L, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Phạm Thị Ngọc N1, sinh năm 1971. Địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ sáng ngày 21/3/2024, Nguyễn Hạnh N điều khiển xe mô tô 78C1-288.48, khi đi ngang qua trụ sở Ủy ban nhân dân Phường A thành phố T, phát hiện thấy cửa còn mở nên nảy sinh ý định vào trụ sở để lấy trộm tài sản. Nguyên dựng xe mô tô bên ngoài, trèo qua tường vào bên trong trụ sở, đến phòng ngủ của dân quân tự vệ lén lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 6 màu xanh ngọc của anh Phan Ngọc L và 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max màu trắng của anh Nguyễn Quốc B. Sau đó, N đem 02 chiếc điện thoại di động vừa lấy trộm về phòng trọ tại thôn Đ, xã H, huyện P cất giấu. Đến khoảng 10 giờ ngày 21/3/2024, N đem 02 chiếc điện thoại này đến cửa hàng điện thoại T1 Toàn Cầu bán cho Trương Huỳnh H1 với giá 3.000.000 đồng. Sáng ngày 22/3/2024, sự việc bị phát hiện. N đi chuộc lại 02 điện thoại đã bán giao nộp cho Công an P, thành phố T.
Kết luận định giá tài sản số 19 ngày 25/3/2024 của Hội định giá tài sản thành phố T kết luận: điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 6, màu xanh ngọc đã qua sử dụng trị giá 2.100.000 đồng; điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, loại 64GB, màu trắng đã qua sử dụng trị giá 6.750.000 đồng. Tổng giá trị tài sản đã chiếm đoạt là 8.850.000 đồng.
Về vật chứng, đồ vật tạm giữ và trả lại chủ sở hữu: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 6; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, loại 64GB; xe mô tô 78C1-288.48 kèm giấy đăng ký xe.
Tại bản cáo trạng số 88/CT-VKSTH ngày 04/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa thực hành quyền công tố, sau khi phân tích tính chất và mức độ hành vi phạm tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51. Đề nghị mức hình phạt từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/3/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Không xét.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Hạnh Nguyên k nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm tái hòa nhập cộng đồng để lo cho cha mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 03 giờ ngày 21/3/2024 tại trụ sở Ủy ban nhân dân Phường A thành phố T, Nguyễn Hạnh N đã tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích lại tiếp tục có hành vi lén lút lấy trộm 02 chiếc điện thoại di động trị giá 8.850.000 đồng của các anh Phan Ngọc L và Nguyễn Quốc B. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng số 88/CT-VKSTH ngày 04/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.1] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương. Tại Bản án số 04/2009/HSST ngày 26/3/2009 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội Cướp tài sản và tại Bản án số 103/2009/HSST ngày 29/8/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xử phạt 06 (sáu) năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 04/2009/HSST, tổng hợp hình phạt chung là 13 năm tù. Bản án số 38/2009/HSST ngày 28/9/2009 của Tòa án nhân dân huyện Tuy An xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt bản án số 38/2009/HSST ngày 28/9/2009 với bản án số 103/2009/HSST ngày 29/8/2009, hình phạt chung là 15 năm 06 tháng tù. Ngày 24/9/2021, bị cáo chấp hành xong bản án về lại địa phương. Bị cáo không coi đó là bài học để tu dưỡng để trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội nhưng bị cáo coi thường pháp luật mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích nên lần phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm minh đối với bị cáo để có tác dụng giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên trong quá trình xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường cho người bị hại. Đồng thời bị cáo có cha ruột được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì và mẹ ruột được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba và Huân chương quyết thắng hạng nhất. Do đó, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[2.2] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
[2.3] Về vật chứng: Không xét.
[2.4] Đối với Trương Huỳnh H1 mua 02 chiếc điện thoại di động do Nguyễn Hạnh N đem bán, nhưng không biết là tài sản do N trộm cắp mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
[3] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Hạnh N phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hạnh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hạnh N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/3/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Không xét.
Về vật chứng: Không xét.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Hạnh N chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Hoa Dung |
Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 85/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hạnh Nguyên bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản
