|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc *** |
Bản án số: 85/2023/DS-ST
Ngày: 25-12-2023
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ- TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Nguyên Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Tư
2. Ông Nguyễn Văn Giới
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 113/2023/TLST-DS ngày 12 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2023/QÐST-DS ngày 01 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2023/QĐST-HPT ngày 18 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 19 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
- Bị đơn: Ông Đào Quang H, sinh năm 1977 và bà Trần Thị N1, sinh năm 1980; (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ B, ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn N trình bày:
Ông Nguyễn Văn N với vợ chồng ông Đào Quang H và bà Trần Thị N1 không có quan hệ họ hàng gì mà chỉ là quen biết ngoài xã hội. Do có quen biết nên vợ chồng ông Đào Quang H và bà Trần Thị N1 có hỏi vay tiền ông để có tiền làm ăn kinh doanh buôn bán heo, ông có cho vợ chồng ông H, bà N1 vay thành 04 lần tổng cộng số tiền là 550.000.000 đồng, tuy nhiên ông H, bà N1 chỉ viết 03 giấy vay tiền, cụ thể như sau:
- Lần đầu vợ chồng ông H, bà N1 vay số tiền 100.000.000 đồng ( Không nhớ rõ ngày tháng vay tiền) nhưng hai bên không làm giấy tờ gì, ông N giao tiền tại nhà của ông H, bà N1, đến ngày 24/12/2018 ông H, bà N1 tiếp tục vay thêm 50.000.000 đồng, ông có yêu cầu hai vợ chồng phải viết giấy vay tiền thì bà N1 có ký tên vào giấy, còn ông H hôm đấy không ký vào giấy vay do bận đi buôn bán, ông N giao tiền cho bà N1 tại chợ T. Tuy nhiên xác định tổng số tiền 150.000.000 đồng chốt ngày 24/12/2023 cả hai vợ chồng ông H, bà N1 đều thống nhất vay của ông N. Các bên thỏa thuận lãi suất cụ thể là 1.000.000 đồng thì lãi suất là 20.000 đồng/ngày.
- Lần hai là vào ngày 01/8/2021 (Âm lịch) hai vợ chồng ông H, bà N1 tiếp tục vay của ông số tiền 200.000.000 đồng. Hai bên có làm Giấy vay tiền đề ngày 01/8 (Âm lịch), giấy vay tiền này do ông Đào Quang H viết và sau đó cả hai vợ chồng ông H, bà N1 đều ký tên vào giấy. Ông N giao tiền tại nhà của hai vợ chồng bị đơn. Ông H, bà N1 tự thỏa thuận và tự trả lãi cho ông N, ông N không yêu cầu lãi suất.
- Lần ba là vào ngày 06/7/2022 (Âm lịch) hai vợ chồng ông H, bà N1 tiếp tục vay của ông N số tiền 200.000.000 đồng. Hai bên có làm Giấy vay tiền đề ngày 06/7/2022 (Âm lịch), giấy vay tiền này do bà Trần Thị N1 viết và bà N1 ký tên vào giấy, số tiền vay này ông H cũng biết nhưng nói bận công việc nên chỉ mỗi bà N1 đứng ra nhận tiền và ký tên. Số tiền này ông N giao cho bà N1 tại trại dưa ấp F, xã T (Trang trại dưa nhà ông N). Ông H, bà N1 tự thỏa thuận và tự trả lãi, ông N không yêu cầu lãi suất.
Từ khi vay tiền cho đến nay, vợ chồng ông H, bà N1 chưa trả cho ông N số tiền vay gốc nào, hàng tháng thì ông H, bà N1 vẫn đóng tiền lãi đầy đủ đến khoảng tháng 8 năm 2022 (âm lịch). Từ đó cho đến nay hai vợ chồng ông H, bà N1 không trả tiền lãi nữa. Từ khi vay tiền cho đến khoảng tháng 8 năm 2022 (âm lịch) số tiền lãi ông N không thể xác định được là đã thu được bao nhiêu do hai ông bà H, N1 đưa tiền không cố định nên ông N không thể thống kê được.
Hiện nay do có công việc ông N có yêu cầu vợ chồng ông H, bà N1 trả lại toàn bộ số tiền gốc và tiền lãi còn thiếu thì hai vợ chồng ông bà H, N1 chây ỳ không chịu trả. Vì thế ông N làm đơn khởi kiện ra Tòa án đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề như sau:
- Buộc vợ chồng ông Nguyễn Quang H1 và bà Trần Thị N1 trả lại cho ông Nguyễn Văn N số tiền gốc đã vay là 550.000.000 đồng. Lãi suất 2% tính từ khoảng tháng 8 năm 2022 (âm lịch) cho đến nay là 100.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền là 650.000.000 đồng.
- Ông Nguyễn Văn N yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Quang H1 và bà Trần Thị N1 trả số tiền 650.000.000 đồng trong một lần.
*Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án bị đơn bà Trần Thị N1 trình bày:
Bà Trần Thị N1 và ông Đào Quang H là vợ chồng với nhau. Do có quen biết với ông N nên vợ chồng ông bà có hỏi vay tiền ông Nguyễn Văn N để có tiền làm ăn kinh doanh buôn bán heo, hai vợ chồng vay tổng cộng số tiền là 550.000.000 đồng, cụ thể như sau:
- Lần đầu vợ chồng bà vay ông N số tiền 100.000.000 đồng (vay vào khoảng năm 2014) nhưng hai bên không làm giấy tờ gì, đến ngày 24/12/2018 vợ chồng bà tiếp tục vay thêm 50.000.000 đồng, ông N có yêu cầu hai vợ chồng phải viết giấy vay tiền thì ông N tự viết giấy và bà có ký tên vào đó, chồng bà là ông H không ký vào giấy vay do bận đi buôn bán. bà xác định với Tòa án đúng là chữ ký của bà dù trong giấy ký chữ “H2” và ghi “Trần Thị H3” mặc dù tên của bà là Trần Thị N1, do tên ở ngoài của bà tên H3 nên bà bị quen tay nên ký tên “H3”. Bà xác định tổng số tiền 150.000.000 đồng chốt ngày 24/12/2023 chồng bà cũng biết và số tiền vợ chồng bà vay để phục vụ cho việc buôn bán của gia đình. Các bên thỏa thuận lãi suất cụ thể là 150.000.000 đồng thì lãi suất là 3.000.000 đồng/tháng.
- Lần hai là vào ngày 01/8/2021 (Âm lịch) hai vợ chồng tôi tiếp tục vay của ông N số tiền 200.000.000 đồng. Hai bên có làm Giấy vay tiền đề ngày 01/8 (Âm lịch), giấy vay tiền này do bà viết ra và sau đó cả hai vợ chồng bà đều ký tên vào giấy. Các bên thỏa thuận lãi suất cụ thể là 200.000.000 đồng thì lãi suất là 8.000.000 đồng/tháng.
- Lần ba là vào ngày 06/7/2022 (Âm lịch) hai vợ chồng bà tiếp tục vay của ông N số tiền 200.000.000 đồng. Hai bên có làm Giấy vay tiền đề ngày 06/7/2022 (Âm lịch), giấy vay tiền này do bà viết và bà ký tên vào giấy, số tiền trên chồng bà có biết nhưng do bận đi làm nên chỉ mình tôi ra nhận tiền và ký tên. Bà N1 cũng xác định số tiền này hai vợ chồng vay để phục vụ cho việc buôn bán của gia đình. Các bên thỏa thuận lãi suất cụ thể là 200.000.000 đồng thì lãi suất là 8.000.000 đồng/tháng.
Từ khi vay tiền cho đến nay, vợ chồng bà chưa trả cho ông N số tiền gốc nào, hàng tháng thì vợ chồng bà vẫn đóng tiền lãi đầy đủ nhưng đến khoảng tháng 8 năm 2022 do làm ăn khó khăn nên vợ chồng bà không đóng lãi cho ông N nữa.
Nay ông N khởi kiện ra Tòa án yêu cầu vợ chồng chúng tôi trả lại cho ông Nguyễn Văn N số tiền gốc đã vay của tôi là 550.000.000 đồng. Lãi suất 2% tính từ khoảng tháng 8 năm 2022 (âm lịch) cho đến nay là 100.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền là 650.000.000 đồng thì vợ chồng bà đồng ý. Tuy nhiên gia đình bà xin trả nợ theo hình thức mỗi tháng trả 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi chấm dứt nợ chứ không thể trả một lần số tiền 650.000.000 đồng.
*Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án bị đơn ông Đào Quang H trình bày:
Ông Đào Quang H là chồng của bà Trần Thị N1, ông H thống nhất với lời trình bày của bà N1, không bổ sung gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn cơ bản đúng theo quy định pháp luật.
Quan điểm giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N. Buộc vợ chồng ông Đào Quang H và bà Trần Thị N1 phải có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn N số tiền gốc và lãi tổng là 650.000.000 đồng.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của các bên đương sự, kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn ông Nguyễn Văn N đề nghị Tòa án buộc vợ chồng ông Đào Quang H và bà Trần Thị N1 phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Văn N số tiền 650.000.000 đồng trong đó bao gồm 550.000.000 đồng tiền vay gốc và 100.000.000 đồng tiền lãi suất. Vì vậy, đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: do bị đơn có địa chỉ tại tổ B, ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt đầy đủ các thông báo, quyết định tố tụng cho nguyên đơn, bị đơn. Nguyên đơn ông Nguyễn Văn N, bị đơn ông Đào Quang H và bà Trần Thị N1 có đơn xin xét xử vắng mặt, cần áp dụng Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung
- Về yêu cầu của đương sự:
[1] Căn cứ vào tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ và lời khai của các đương sự xác định ông Đào Quang H và bà Trần Thị N1 có ký giấy vay tiền thể hiện hai vợ chồng ông H và bà N1 có vay của ông N số tiền 550.000.000 đồng. Tại biên bản lấy lời khai ngày 01/12/2023, ông Đào Quang H và bà Trần Thị N1 đã xem lại giấy vay tiền nêu trên và xác định đúng chữ ký của của hai ông bà trên từng giấy vay tiền cụ thể. Hai vợ chồng ông H và bà N1 xác định còn nợ của ông N số tiền 550.000.000 đồng đến nay chưa trả cho ông N số tiền vay gốc nào. Do đó, Hội đồng xét xử xác định giữa ông N với vợ chồng ông Đào Quang H và bà Trần Thị N1 có thỏa thuận cho vay tiền là có thật.
Tại 03 giấy vay tiền thể hiện nội dung vợ chồng ông Đào Quang H và bà Trần Thị N1 có vay của ông N số tiền 550.000.000 đồng, với lãi suất các bên tự thỏa thuận. Thời hạn trả tiền là khi nào ông Nguyễn Văn N cần thì hai vợ chồng ông H và bà N sẽ hoàn trả lại. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của ông N, buộc hai vợ chồng ông Đào Quang H và bà Trần Thị N1 có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn N số tiền 550.000.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015.
[2] Về yêu cầu lãi suất: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn N yêu cầu lãi suất 2% tính từ tháng 8 năm 2022 (âm lịch) cho đến nay là 100.000.000 đồng, bị đơn ông Đào Quang H và bà Trần Thị N1 cũng đồng ý với yêu cầu trên nên xét yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Như vậy tổng số tiền gốc và lãi mà vợ chồng ông Đào Quang H và bà Trần Thị N1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn N là 650.000.000 đồng. Trong đó tiền gốc là 550.000.000 đồng và tiền lãi là 100.000.000 đồng.
[3] Ông Nguyễn Văn N yêu cầu hai vợ chồng ông Đào Quang H và bà Trần Thị N1 trả số tiền 650.000.000 đồng trong một lần, tuy nhiên vợ chồng ông H, bà N1 cho rằng cuộc sống hiện đang khó khăn nên chỉ đồng ý trả dần cho ông Nguyễn Văn N số tiền 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi trả xong số tiền trên. Xét thấy thời gian vay tiền đã từ năm 2014 cho đến nay nhưng phía bị đơn ông Đào Quang H và bà Trần Thị N1 chưa trả bất kỳ khoản vay gốc nào cho phía nguyên đơn, từ tháng 8 năm 2022 cho đến nay cũng không tiếp tục đóng bất kỳ khoản lãi suất nào cho phía ông N, đồng thời hai vợ chồng ông H, bà N1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào thể hiện hiện nay đang gặp khó khăn cho thấy vợ chồng ông H, bà N1 không có thiện chí. Vì các lý do trên nên yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N được chấp nhận.
[4] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N được chấp nhận nên bị đơn ông Đào Quang H và bà Trần Thị N1 phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ vào Điều 27; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N.
Buộc ông Đào Quang H và bà Trần Thị N1 có trách nhiệm thanh toán một lần cho ông Nguyễn Văn N số tiền 650.000.000 (sáu trăm năm mươi triệu) đồng, trong đó tiền vay gốc là 550.000.000 (năm trăm năm mươi triệu) đồng và tiền lãi suất là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.
Kể từ khi ông Nguyễn Văn N có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng ông Đào Quang H và bà Trần Thị N1 còn phải trả thêm phần tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn N không phải chịu. Hoàn lại cho ông N số tiền 12.000.000 đồng tạm ứng án phí mà ông N đã nộp theo biên lai thu tiền số 0019658 ngày 12/10/2023 của Chi cục thi hành án huyện Đồng Phú.
Ông Đào Quang H và bà Trần Thị N1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 30.000.000 đồng.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kề từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ Tọa phiên tòa Nguyễn Nguyên Hoàng |
Bản án số 85/2023/DS-ST ngày 25/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 85/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng vay tài sản
