Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HS-ST

Ngày: 25 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Chinh;
  • Thẩm phán: Bà Nguyễn Thuý Hằng;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Sinh;
  • Ông Vũ Anh Tuấn;
  • Bà Trần Thị Kim Thuỷ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mộc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Mai Thị Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2024/HS-ST ngày 18 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Thị H; tên gọi khác: không; giới tính: nữ; sinh ngày 17/12/1980, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: Số nhà A, Bà T, phường H, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; họ và tên bố: Đặng Quốc V, sinh năm 1955, họ và tên mẹ: Đỗ Thị H1, sinh năm 1960; họ và tên chồng: Trịnh Cảnh T, sinh năm 1975; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không;

- Nhân thân:

  • + Ngày 07/4/2009 Tòa án nhân dân thị xã Cẩm Phả (nay là thành phố C), tỉnh Quảng Ninh xét xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc”.
  • + Ngày 14/11/2023, Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử phạt 8 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Bị cáo đang thi hành án 8 năm tù của Bản án số: 11/2023/HS-ST ngày 14/11/2023, của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá (kể từ ngày 22/6/2023).

Hiện tại, bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo: bà Trần Thị Kim C là luật sư của Công ty L thuộc Đoàn luật sư tỉnh Q; vắng mặt tại phiên toà.

Bị hại: Phạm Thị T1; trú tại: số nhà A, tổ F, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Lê Hoài N; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Thị H và chị Phạm Thị T1 (sinh năm 1990, trú tại tổ F, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh), là bạn bè chơi thân với nhau từ năm 2016. Do H vay nợ tiền của nhiều người, không có tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân, nên H đã nảy sinh ý định lừa chị T1 để chiếm đoạt tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân. H biết chị T1 chưa có công việc ổn định. Lợi dụng bên nhà chồng H có chị dâu họ tên là Nguyễn Thị M - Thứ trưởng Bộ T3, Tổng giám đốc B. Mặc dù, H không có khả năng hay có mối quan hệ quen thân với ai để nhờ xin việc cho chị T1. H cũng không có số điện thoại hay trao đổi gì với chị M để nhờ xin việc cho chị T1. Nhưng H đã nói dối chị T1 là H sẽ liên hệ với chị M để xin việc cho chị T1 vào làm ở Tổng bảo hiểm Việt Nam, chị T1 phải mất chi phí khoảng từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, do chị T1 không có đủ tiền ngay một lần, nên H đã đưa ra nhiều lý do, các khoản phải chi phí để chị T1 tin tưởng là thật đưa tiền cho H nhiều lần. Khoảng tháng 6/2016 chị T1 đã đưa cho H một bộ hồ sơ xin việc, theo yêu cầu của H, chị T1 đã chuyển tiền cho H để xin việc (không nhớ chính xác là bao nhiêu). H không đưa hồ sơ của chị T1 cho ai để nhờ xin việc, H đã chi tiêu hết số tiền đã nhận của chị T1. H còn vào các trang web của các cơ quan B, T4 tìm hiểu các thông tin họ tên của một số cán bộ làm tại các cơ quan này, khi nhắn tin cho chị T1, H nhắc đến tên một số người ở các cơ qua này mà H gặp để xin việc cho chị T1, chị T1 phải đưa tiền để H đi gặp những người này, người kia. H nói dối là chị T1 đã được nhận vào làm tại Tổng bảo hiểm xã hội, không phải đi làm nhưng vẫn có lương và được đóng bảo hiểm, sau này tiền lương trong 6 năm sẽ được thanh toán một lần, chị T1 phải đóng tiền thi công chức, thi chuyên viên, tiền chống trượt thi, tiền đóng các gói bảo hiểm, tiền xin luân chuyển cán bộ sang T4.

Chị T1 tin tưởng là thật, nên cứ khi nào H yêu cầu là chị T1 lại chuyển tiền cho H. Từ ngày 20/10/2016 đến ngày 27/12/2022, chị T1 đã nhiều lần dùng tài khoản ngân hàng của chị số 0141000511377 mở tại ngân hàng V1 chi nhánh Đ phòng G chuyển tiền cho H hoặc trực tiếp ra các ngân hàng ở tỉnh Quảng Ninh nộp tiền cho H và nhờ người khác chuyển tiền cho H, tổng số 199 lần vào 02 tài khoản ngân hàng của H số 3531205022534 mở tại ngân hàng A chi nhánh số 3 Thanh Hóa và số 1017227119 mở tại ngân hàng V1 chi nhánh T5 với tổng số tiền là 2.921.580.000 đồng (hai tỷ chín trăm hai mươi mốt triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng).

Đến đầu năm 2023, chị T1 thấy không có quyết định đi làm và không nhận được tiền lương như H đã trao đổi, chị T1 nói với H là không xin việc nữa yêu cầu H trả lại tiền cho chị. Nhưng H đưa ra nhiều lý do để không trả tiền cho chị T1. Sau đó, chị T1 tự tìm hiểu thì biết H đã bị Cơ quan điều tra Công an T6 bắt về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ tháng 6/2023, nên chị T1 đã đến Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q trình báo.

Kết quả xác minh, B cung cấp: Từ năm 2016 đến nay, B không có nhân viên nào tên là Phạm Thị T1 sinh ngày 30/12/1990, trú tại tổ F, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, không tiếp nhận hồ sơ xin việc nào có tên và ngày tháng năm sinh như trên.

Quá trình điều tra bị cáo Đặng Thị H đã khai nhận hành vi phạm phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo H còn khai: bị cáo đã được đối chiếu sao kê tài khoản của mình và kê khai ra một bảng về số lần và số tiền của chị T1 đã chuyển vào tài khoản ngân hàng của bị cáo với tổng tiền là 2.921.580.000 đồng (hai tỷ chín trăm hai mươi mốt triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng). Sau mỗi lần chị T1 chuyển tiền, bị cáo không đưa cho ai mà chiếm đoạt chỉ tiêu cá nhân và trả nợ hết, bị cáo không đưa hồ sơ giấy tờ xin việc của chị T1 cho ai, bị cáo không cất giữ ở nhà, đến nay không nhớ để ở đâu.

Về trách nhiệm dân sự: hiện tại bị cáo chưa trả lại tiền cho bị hại nên bị hại yêu cầu bị cáo Đặng Thị H trả lại số tiền đã chiếm đoạt là 2.921.580.000 đồng.

Bản Cáo trạng số: 2486/CT-VKSQN-P2 ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, truy tố Đặng Thị H, về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh N1 giữ nguyên quyết định truy tố, sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Đặng Thị H từ 13 đến 14 năm tù, về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp với hình phạt 08 năm tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/2023/HS-ST ngày 14/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, Buộc bị cáo Đặng Thị H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là từ 21 đến 22 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2023; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự buộc bị cáo phải trả lại cho chị T1 số tiền đã chiếm đoạt là 2.921.580.000 đồng.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm: Việc truy tố và Tòa án xét xử bị cáo về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có hoàn cảnh khó khăn, đang nuôi hai con nhỏ; nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Thị H thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, không có ý kiến tranh luận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị hại chị Phạm Thị T1 nhất trí với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát; yêu cầu bị cáo phải trả lại cho chị T1 số tiền 2.921.580.000 đồng bị cáo đã chiếm đoạt và đề nghị xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng, Biên bản kiểm tra Zalo điện thoại của bị hại, Sao kê chi tiết lịch sử giao dịch tài khoản ngân hàng và các tài liệu, chứng cứ chứng minh khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Đặng Thị H không có chức năng và không có khả năng xin việc cho chị Phạm Thị T1 (sinh năm 1990, trú tại tổ F, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh), nhưng H đã nói dối có thể xin được việc cho chị T1 vào làm việc tại B và chị T1 phải mất nhiều chi phí như: tiền nhờ người này, người kia xin việc, tiền thi công chức, thi chuyên viên, tiền chống trượt thi, tiền đóng các gói bảo hiểm, tiền xin luân chuyển cán bộ, chị T1 tin tưởng là thật đã nhiều lần (199 lần) chuyển tiền cho H vào các tài khoản ngân hàng của Đặng Thị H mở tại Thanh Hóa. Trong khoảng thời gian từ ngày 20/10/2016 đến ngày 27/12/2022, H đã chiếm đoạt của chị T1 tổng tiền là 2.921.580.000 đồng (hai tỷ chín trăm hai mươi mốt triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng). Như vậy, hành vi của bị cáo Đặng Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo Đặng Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tính đúng đắn trong hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo phạm tội vì động cơ tư lợi; đã có lần bị Tòa án xét xử nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội đã thực hiện nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành người có ích và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

[4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo Đặng Thị H, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 589 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự: do bị cáo chưa trả lại số tiền chiếm đoạt cho bị hại và bị hại có yêu cầu trả số tiền bị cáo chiếm đoạt nên buộc bị cáo phải trả lại số tiền chiếm đoạt cho bị hại tổng số tiền là 2.921.580.000 đồng (hai tỷ chín trăm hai mươi mốt triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng).

[6] Về vật chứng của vụ án: Vụ án không có vật chứng nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[7] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và đang nuôi con nhỏ nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và trách nhiệm dân sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ theo quy định của pháp luật là có căn cứ nên được chấp nhận.

[9] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại thực hiện quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 260 và Điều 299 Bộ luật tố tụng hình sự;

  1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt: Bị cáo Đặng Thị H 13 (mười ba) năm tù, về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, Tổng hợp với hình phạt 08 năm tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/2023/HS-ST ngày 14/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, Buộc bị cáo Đặng Thị H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 21 (hai mươi mốt) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2023.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều Điều 357 của Bộ luật Dân sự; Buộc bị cáo Đặng Thị H phải trả lại cho chị Phạm Thị T1 2.921.580.000 đồng (hai tỷ chín trăm hai mươi mốt triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng).

    Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ L1.

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đặng Thị H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 90.431.600 đồng (chín mươi triệu, bốn trăm ba mươi mốt nghìn, sáu trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: bị cáo Đặng Thị H; bị hại Phạm Trị T2 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - THA, Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Trí Chinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 85/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dang Thi H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger