Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HS-ST

Ngày: 25-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các hội thẩm nhân dân:

  • Bà Trần Thị Tuyết
  • Bà Trần Nguyệt Mai

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Quyền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 21/6/2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh H, sinh ngày 13 tháng 02 năm 1995 tại: Đồng Tháp; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ E, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ ở: Không nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T (đã chết); con bà: Nguyễn Thị Kim H1; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2024 (có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty TNHH Một Thành viên Q; Người đại diện theo pháp luật: Ông Lâm Văn C, sinh năm 1974; địa chỉ: đường H, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 20 giờ 00 phút ngày 03/01/2024, tổ tuần tra Công an Q1 đang trên đường tuần tra khi đi đến trước nhà số A T, Phường A, Quận E phát hiện Nguyễn Thanh H đang mở cốp sau xe ô tô biển số 66B-002.51 lấy 03 bao nylon màu đen chuẩn bị giao cho một nam thanh niên tên “H2” (chưa rõ lai lịch), nghi vấn là hàng cấm nên tiến hành kiểm tra. Khi thấy lực lượng Công an thì “H2” bỏ chạy thoát, Tổ tuần tra tiến hành kiểm tra 03 bao nylon của Nguyễn Thanh H phát hiện bên trong có chứa 30 bịch nghi là pháo nổ nên Tổ công tác đưa H cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Công an P, Quận E lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, vụ việc sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 để điều tra theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Nguyễn Thanh H khai nhận: H là nhân viên Công ty Q, công việc hàng ngày của H là soát vé trên xe ô tô biển số 66B-002.20 (tuyến Đồng Tháp – Thành phố Hồ Chí Minh) do tài xế tên Trần Minh T1 điều khiển. Chiều 03/01/2024, theo lịch làm việc, T1 điều khiển xe ô tô biển số 66B-002.20 chở H và khách từ bến xe thành phố H, tỉnh Đồng Tháp đến Bến xe M, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi xe đến Bến xe M vào khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, T1 yêu cầu H mang 03 bao nylon có chứa pháo nổ cất trong gầm xe đi giao cho người mua tên H2 sử dụng số điện thoại 0798.273.xxx. T1 ở Bến xe M, quản lý xe ô tô còn H mang 03 bao nylon chứa pháo nổ và đi nhờ xe trung chuyển của Nhà xe Kim C1 từ bến xe M về góc đường D - Hồ N, Quận E. Sau đó, H đi bộ đến Công ty Q và thấy xe ô tô biển số 66B-002.51 (chủ xe là Công ty "Quang Phát") đang dừng đậu trước số 114 T, Phường A, Quận E, không có ai trông coi, quản lý nên H mang 03 bao nylon trên cất vào cốp sau xe. Đến khoảng 20 giờ, khi H mở cốp sau xe ô tô biển số 66B-002.51, lấy 03 bao nylon trên chuẩn bị giao cho H2 và thu tiền thị bị tổ tuần tra của Công an Q1 phát hiện bắt giữ như trên. H khai nhận toàn bộ số pháo nổ trên là của T1 và khách mua pháo cũng do T1 trực tiếp liên lạc. Nhiệm vụ của H là đem pháo nổ từ bến xe M về Quận E cất giấu, liên lạc với người mua hẹn giao pháo và thu tiền, sau đó gửi tiền lại cho T1 vào ngày hôm sau và T1 sẽ trả công cho H. H không biết rõ T1 mua pháo nổ ở đâu, khi nào, giá cả bao nhiêu. H và T1 cùng tham gia mua bán pháo nổ được 3 lần, cả 3 lần T1 đều là người mua pháo, tìm kiếm khách hàng và H là người đi giao cho khách mua và thu tiền, lần thứ 3 (ngày 03/01/2024) thì bị Công an Q1 phát hiện như trên. Vào ngày 03/01/2024, T1 nói H giao pháo nổ cho H2 và thu 15.000.000 đồng, T1 hứa trả công cho H 750.000 đồng, tương ứng với 25.000 đồng một bịch.

Trần Minh T1 khai nhận: T1 là tài xế của Công ty Q từ khoảng tháng 11 năm 2023 đến ngày 03 tháng 01 năm 2024 thì T1 nghỉ làm với lý do "thức đêm liên tục dẫn đến mất ngủ, tinh thần thường xuyên không ổn định". Ngày 03/01/2024, T1 là tài xế điều khiển xe ô tô biển số 66B-002.20 từ bến xe H đến bến xe M. T1 khẳng định bản thân chỉ ngồi ở ghế tài xế và không làm bất cứ việc gì khác. T1 không giao pháo cho H đem bán cho khách và cũng không biết việc Nguyễn Thanh H buôn bán pháo. T1 khai nhận nhiệm vụ của bản thân là điều khiển xe ô tô biển số 66B-002.20, còn việc đón trả khách, nhận hàng, giao hàng hóa là của H. T1 không biết và liên quan đến việc buôn bán pháo nổ của H.

Vật chứng thu giữ: 03 (ba) túi nylon màu đen được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh H, Nguyễn Phước Đăng H3 (đại diện Đội CSKT Công an Q1) và hình dấu Công an P, Quận E, bên trong có 30 gói nylon chứa các vật hình cầu (dạng quả bóng), vỏ bằng nhựa nhiều màu sắc, được nối với một đoạn dây dẫn (ký hiệu mẫu m) đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 12,56kg (một hai phẩy năm sáu kilogam). Số mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong 03 (ba) bao nylon màu đen dán niêm phong, có chữ ký xác nhận của giám định viên Nguyễn Xuân S (PC09); 01 (một) điện thoại di động hiệu S1, số kiểu máy: SM-N960N/DS, số Seri: R39K90D21A, số Imeil: 358401091857522, số Imei2: 358401091857522, đã qua sử dụng; 01 (một) xe ô tô loại 29 chỗ, hiệu COUNTYHM, biển số 66B-002.51, số khung: RRFHD17PPDT002319, số máy: D4DDC526468.

Tại bản kết luận giám định số 889/KL-KTHS ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Phòng K, Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 03 (ba) túi nylon màu đen được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh H, Nguyễn Phước Đăng H3 (đại diện Đội CSKT Công an Q1) và hình dấu Công an P, Quận E, bên trong có 30 gói nylon chứa các vật hình cầu (dạng quả bóng), vỏ bằng nhựa nhiều màu sắc, được nối với một đoạn dây dẫn (ký hiệu mẫu m) đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 12,56kg (một hai phẩy năm sáu kilogam).

Bản cáo trạng số: 84/CT-VKSQ5 ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H về tội: “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c Khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thanh H về tội “Buôn bán hàng cấm”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 190; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H với mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Tại phiên tòa công khai, bị cáo Nguyễn Thanh H đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo là phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Nguyễn Thanh H đã có hành vi mua các loại pháo nổ nhằm mục đích bán lại cho người khác để kiếm lời, ngày 03/01/2024 khi bị cáo H đến trước nhà số A T, Phường A, Quận E để chuẩn bị giao pháo bán cho đối tượng tên H2 thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ tổng cộng 12,56kg (một hai phẩy năm sáu kilogam). Theo kết quả giám định số pháo mà Cơ quan Công an thu giữ của bị cáo đều là pháo nổ. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã cùng nhau tìm kiếm mua pháo nhằm để bán lại cho người khác để kiếm lời, hành vi của bị cáo là cố ý thực hiện.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước mà cụ thể là trật tự quản lý việc sản xuất, buôn bán hàng cấm là các loại pháo nổ, làm ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của kinh tế Nhà nước. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo; nhằm mục đích giáo dục các bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

  1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; phạm tội nhân thân chưa có tiền án tiền sự; mới phạm tội lần đầu. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
  3. Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định để cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và đủ sức răn đe đối với người khác.
  4. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo phạm tội vì mục đích hưởng lợi, tuy nhiên bị cáo khó khăn về kinh tế nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  5. Về khoản tiền thu lợi bất chính: Bị cáo chưa được hưởng lợi gì từ việc buôn bán hàng cấm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  6. Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
  7. Đối với “H2” là người mua pháo nổ của H do chưa xác định được nhân thân lai lịch, Công an Q1 đang tiếp tục xác minh, làm rõ, khi nào bắt được sẽ xem xét xử lý sau. Đối với Trần Minh T1 khai không biết và không liên quan đến việc Nguyễn Thanh H buôn bán pháo nổ, ngoài ra không có chứng cứ, tài liệu gì khác để chứng minh Trần Minh T1 có liên quan đến việc mua bán pháo nổ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ căn cứ để xử lý đối với T1 là phù hợp với quy định pháp luật. Đối với việc bị cáo H khai nhận đã có 02 lần giúp cho Trần Minh T1 bán pháo nổ. Tuy nhiên do không thu giữ được pháo nên không thể tiến hành giám định để xác định được có phải là pháo nổ hay không và cũng không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh bị cáo H đã thực hiện hành vi mua bán pháo 02 lần trước đó nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa đủ cơ sở để xử lý H về hành vi trên là phù hợp vớ pháp luật.
  8. Về vật chứng: 03 (ba) túi nylon màu đen được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh H, Nguyễn Phước Đăng H3 (đại diện Đội CSKT Công an Q1) và hình dấu Công an P, Quận E, bên trong có 30 gói nylon chứa các vật hình cầu (dạng quả bóng), vỏ bằng nhựa nhiều màu sắc, được nối với một đoạn dây dẫn (ký hiệu mẫu m) đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 12,56kg (một hai phẩy năm sáu kilogam). Số mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong 03 (ba) bao nylon màu đen dán niêm phong, có chữ ký xác nhận của giám định viên Nguyễn Xuân S (PC09). Xét đây là vật phạm pháp, nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy. Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu S1, số kiểu máy: SM-N960N/DS, số Seri: R39K90D21A, số Imei1: 358401091857522, số Imei2: 358401091857522, đã qua sử dụng là tài sản cá nhân của bị cáo, có sử dụng liên lạc trong việc mua bán pháo nổ nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung ngân sách nhà nước. 01 (một) xe ô tô loại 29 chỗ, hiệu COUNTYHM, biển số 66B-002.51, số khung: RRFHD17PPDT002319, số máy: D4DDC526468 là tài sản của Công ty TNHH MTV Q, bị cáo H cất giấu hàng cấm, Công ty không biết về hành vi mua bán pháo của H và cũng không biết bị cáo H cất giấu pháo nổ trong xe nên Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe trên cho Công ty TNHH MTV Q.
  9. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 190; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 01 (một) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 01 năm 2024.

Căn cứ điểm a, c Khoản 1, Khoản 3 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a Khoản 2; Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) túi nylon màu đen được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh H, Nguyễn Phước Đăng H3 (đại diện Đội CSKT Công an Q1) và hình dấu Công an P, Quận E, bên trong có 30 gói nylon chứa các vật hình cầu (dạng quả bóng), vỏ bằng nhựa nhiều màu sắc, được nối với một đoạn dây dẫn (ký hiệu mẫu m) đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 12,56kg (một hai phẩy năm sáu kilogam). Số mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong 03 (ba) bao nylon màu đen dán niêm phong, có chữ ký xác nhận của giám định viên Nguyễn Xuân S (PC09).

Trả lại cho Công ty TNHH MTV Q (một) xe ô tô loại 29 chỗ, hiệu COUNTYHM, biển số 66B-002.51, số khung: RRFHD17PPDT002319, số máy: D4DDC526468.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu S1, số kiểu máy: SM-N960N/DS, số Seri: R39K90D21A, số Imei1: 358401091857522, số Imei2: 358401091857522, đã qua sử dụng.

(Tang vật hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/6/2024).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TpHCM;
  • - Sở Tư pháp TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Phòng PV 06-Công an TpHCM;
  • - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thanh Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (buôn bán hàng cấm)

  • Số bản án: 85/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Buôn bán hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh H-Buôn bán hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger