Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HSST

Ngày: 24-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN- TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Duyên

Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Khắc Hoàn

Ông Đỗ Đình Thế- nguyên giáo viên

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn- Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 66/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn S. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 10/3/2008 tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: khu F, phường H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nghề nghiệp: học sinh. Trình độ văn hóa: 10/12. Giới tính: nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Con ông: Lê Văn C và bà Nguyễn Thị H. Vợ con: chưa có. Tiền án, tiền sự: chưa. Bị áp dụng biên pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và Tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 26/3/2024, có mặt.

*Người đại diện theo pháp luật của bị cáo: ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị H (bố mẹ đẻ của bị cáo). Địa chỉ: khu F, phường H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Đều có mặt.

*Người bào chữa cho bị cáo: ông Trần Quý C1- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý của Nhà nước tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

*Đại diện trường TH, THCS và THPT Y1: Vắng mặt.

*Bị hại: Trần Tuấn A, sinh năm 2004. Trú tại: thôn A, xã L, TP H, tỉnh Quảng Ninh. Có đơn xin xử vắng mặt.

*Người làm chứng: Lê Văn H1, Nguyễn Huy H2, Đặng Đức D và người đại diện theo pháp luật của anh D- đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 06/02/2024, tại khu T, phường T, thị xã Q, do mâu thuẫn trong sinh hoạt, Lê Văn S dùng dao gấp đâm một nhát vào vùng hạ sườn phải anh Trần Tuấn A gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 34%.

Tại bản cáo trạng số 1028/CT-VKSQY ngày 14/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên đã truy tố bị cáo Lê Văn S tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự (tương ứng điểm a khoản 1 điều 134 Bộ luật Hình sự).

Bị cáo Lê Văn S khai: Khoảng 23 giờ ngày 06/02/2024, bị cáo cùng bạn là Ngô Viết Đ, Nguyễn Huy H2 sang khu T, phường T, thị xã Q chơi. Khi bị cáo cùng các bạn đang đứng ở vỉa hè thì nhóm Tuấn A đi qua và chửi “có thích nhìn đểu không”, không thấy nhóm bị cáo nói gì thì bỏ đi. Khoảng 10 phút sau, nhóm đó quay lại và thách thức đánh nhau. H2 đang đứng gần đó thì bị H1 (trong nhóm Tuấn A) tát và đấm nhiều nhát vào mặt. H2 cũng đấm lại H1. Bị cáo chạy đến kéo Tuấn A ra thì bị Tuấn A đấm chảy máu mũi. Bị cáo liền rút con dao gấp trong túi áo bên phải đâm một nhát vào phần bụng bên phải của Tuấn A, sau đó chạy vào quán ăn gần đó trốn và được Đ chở về nhà. Sau đó, bị cáo đưa dao cho bạn là Đặng Đức D. D đã mang đi vứt xuống mương nước.

Con dao bị cáo dùng đâm Trần Tuấn A là dao gấp bằng kim loại, dài khoảng 10cm, một đầu nhọn và 1 cạnh lưỡi sắc, bị cáo mang theo để phòng thân. Bị cáo không quen biết, không mâu thuẫn với nhóm Tuấn A, nguyên nhân dùng dao đâm Tuấn A do nhóm Tuấn A vô cớ gây sự, chửi bới nhóm bị cáo và xông vào đánh nhóm bị cáo trước.

Nay bị hại yêu cầu bồi thường 80.000.000đồng, bị cáo đồng ý và gia đình bị cáo đã bồi thường được 50.000.000 đồng

Bị hại Trần Tuấn A khai: Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 06/02/2024, anh cùng các bạn là Nguyễn Ngọc Y, Nguyễn Mạnh Q, Lê Văn H1 đi 2 xe máy từ phường T, thị xã Q về xã T, thị xã Q. Đến đoạn đường thuộc khu T, phường T, thị xã Q thì thấy 1 nhóm khoảng 5 người(sau này biết là nhóm của Lê Văn S) đứng chơi ở ven đường. Khi đi qua thì H1 bảo nhóm S nhìn đểu và bảo cả nhóm quay lại. H1 xuống xe hỏi “thích nhìn đểu không” thì nhóm S nói “bọn em có nhìn đểu đâu” nên nhóm Tuấn A, H1 bỏ đi. Đi được khoảng 100m H1 bảo cả nhóm quay lại nói chuyện với nhóm S. Đến nơi, H1 thách thức đánh nhau, dùng tay tát vào mặt Nguyễn Huy H2, kéo H2 xuống khỏi xe mô tô và đấm H2, Hoàng đấm lại. Tuấn A xông đến định đánh H2 thì bị S kéo tay ra. Tuấn A bèn đấm vào mặt S. Ngay lúc đó S rút dao đâm 1 nhát vào bụng Tuấn A rồi bỏ chạy đến nhà dân gần đó, anh bị tổn hại 34% sức khỏe. H1 cũng bị chảy máu ở trán nên Tuấn A và H1 được đưa đến Trung tâm y tế thị xã Q cấp cứu. Sau đó, Tuấn A được đưa đến bệnh viện B điều trị từ ngày 07/02/2024 đến ngày 16/02/2024, nay anh yêu cầu bị cáo bồi thường 80.000.000 đồng, gồm: Tiền viện phí 2.900.000đồng; tiền mất thu nhập 2 tháng không đi làm được: 12.000.000đồng; tiền công người chăm sóc 10 ngày: 3.500.000đồng; tiền thuê xe taxi 2.000.000 đồng; tiền giám định thương tích 1.900.000đồng; bồi thường tổn hại sức khỏe 58.000.000đồng.

Người làm chứng Lê Văn H1 khai: Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 06/02/2024, anh H1 cùng Trần Tuấn A, Nguyễn Ngọc Y, Nguyễn Mạnh Q, Lê Văn H1 trên đường đi hát karaoke về đến đoạn đường thuộc khu T, phường T thấy nhóm của Lê Văn S đứng chơi ở ven đường. Anh H1 thấy nhóm S nhìn đểu nên bảo cả nhóm quay lại, nhưng chỉ hỏi vài câu rồi đi. Đi được khoảng 100m anh H1 tiếp tục bảo cả nhóm quay lại giải quyết nhóm S. Đến nơi, H1 thách thức nhóm S đánh nhau, dùng tay tát và đấm vào đầu, mặt Nguyễn Huy H2. H2 dùng tay kẹp chìa khóa đấm vào đầu H1 gây chảy máu. Tuấn A xông vào định đánh H2 thì S kéo Tuấn A ra, sau đó Tuấn A và S đánh nhau như nào anh H1 không biết.

Sau khi sự việc xảy ra, Nguyễn Huy H2 đã bồi thường cho anh H1 10.000.000đồng, anh H1 không yêu cầu khởi tố đối với Nguyễn Huy H2.

Người làm chứng Nguyễn Huy H2 khai: Trước khi bị Lê Văn H1 tát và đấm, H2 không chửi bới hay xúc phạm gì. Tuấn A cũng xông đến chỗ H1 thì bị S lấy tay kéo ra. Do bị H1 đánh nên anh H2 dùng tay phải kẹp chìa khóa đấm vào trán H1 gây chảy máu, sau đó bỏ chạy vào quán ăn đêm gần đó, không được chứng kiến S đâm Tuấn A.

Giấy chứng nhận thương tích số 27/CN-BVBC ngày 20/02/2024 của Bệnh viện B xác định: Anh Trần Tuấn A vào viện lúc 01 giờ 36 phút ngày 07/02/2024, ra viện ngày 16/02/2024, tình trạng thương tích: Hạ sườn phải có 01 vết thương kích thước 02cm, bờ sắc gọn, đã cầm máu. Đám tổn thương gan vùng hạ phân thùy VI kích thước khoảng 7 x 20mm, lớp dịch mỏng dưới bao gan. Hình ảnh vài bóng khí tự do ổ bụng. Tụ máu và khí phần mềm thành bụng phải.

Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 124/KLTTCT-TTPY ngày 28/02/2024 của Trung tâm pháp y- Sở y tế tỉnh Q kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trần Tuấn A tại thời điểm giám định là 34% sức khỏe; các vết thương do vật sắc nhọn gây nên.

Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 123/KLTTCT-TTPY ngày 28/02/2024 của Trung tâm pháp y- Sở y tế tỉnh Q kết luận thương tích của Lê Văn H1: Tỷ lệ tổn thương cơ thể 04% sức khỏe, các vết thương do vật sắc gây nên.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 điều 134(tương ứng điểm a khoản 1 điều 134 Bộ luật Hình sự); điểm b, s khoản 1, 2 điều 51, khoản 1, 2, 5 điều 65, khoản 1 điều 54, điều 91, khoản 2 điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn S từ 24 (hai mươi bốn) tháng tù đến 30(ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48(bốn mươi tám)tháng đến 60 (sáu mươi) tháng.

Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 chìa khóa bằng kim loại.

Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm: nhất trí với truy tố của Viện kiểm sát về tội danh, điều luật song đề nghị xem xét nguyên nhân, hoàn cảnh dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là do lỗi của bị hại; bị cáo phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi nên nhận thức chưa đầy đủ, đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo và miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo không tranh luận với quan điểm Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn S thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, xác nhận nội dung: Khoảng 23 giờ ngày 06/02/2024, tại khu T, phường T, thị xã Q, do bực tức vì bị nhóm Trần Tuấn A gây sự và dùng tay chân đánh những người trong nhóm S nên Lê Văn S dùng dao gấp đâm một nhát vào vùng bụng anh Trần Tuấn A gây thương tích.

Nguyên nhân bị cáo đâm bị hại được xác định do nhóm bị hại cho là nhóm bị cáo “nhìn đểu” nên Lê Văn H1, Trần Tuấn A (nhóm bị hại) đã xông vào đấm, tát Nguyễn Huy H2, Lê Văn S (nhóm bị cáo). Bị cáo bị Trần Tuấn A đánh nên đã dùng dao đâm lại.

Các tài liệu điều tra khác như biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của bị hại, những người làm chứng, kết luận giám định pháp y về thương tích, vật chứng thu giữ.. đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo, thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 06/02/2024, tại khu T, phường T, thị xã Q, do mâu thuẫn trong sinh hoạt, Lê Văn S dùng dao gấp đâm một nhát vào vùng hạ sườn phải anh Trần Tuấn A gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 34%.

Hành vi của bị cáo Lê Văn S đã phạm tội “Cố ý gây thương tích" theo điểm c khoản 3 điều 134 Bộ luật hình sự (tương ứng với điểm a khoản 1 điều 134 Bộ luật hình sự) như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã dùng dao (là hung khí nguy hiểm) đâm vào vùng bụng gây thương tích cho bị hại thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường tính mạng sức khỏe của người khác, nên cần xử lý nghiêm.

Tuy nhiên trong vụ án này, bị hại cũng có lỗi, là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Nhóm bị hại đã vô cớ gây sự, cho rằng nhóm bị cáo “nhìn đểu” rồi xông vào tát, đấm nhóm bị cáo trước dẫn đến bị cáo không làm chủ được hành vi nên đã phạm tội.

[2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, đã bồi thường khắc phục hậu quả, được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị hại cũng có một phần lỗi, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi, khả năng nhận thức xã hội và nhận thức pháp luật còn hạn chế; có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hiện đang đi học, có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết phải buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội mà để cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đủ giáo dục và phòng ngừa chung.

[3]. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đảm bảo khách quan, đúng quy định của pháp luật.

[4]. Về bồi thường dân sự và vật chứng: Bị hại yêu cầu bồi thường 80.000.000đồng (tám mươi triệu đồng), tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện theo pháp luật đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại.

Bị cáo và đại diện theo pháp luật của bị cáo đều xác nhận bị cáo không có thu nhập, không có tài sản riêng. Do đó, căn cứ khoản 2 điều 586, 587 Bộ luật Dân sự cần buộc đại diện theo pháp luật của bị cáo bồi thường thay.

Quá trình điều tra, người đại diện theo pháp luật của bị cáo đã bồi thường cho bị hại 50.000.000đồng (trong đó có 40.000.000đồng nộp tại chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên) nên còn phải bồi thường 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng).

Về vật chứng của vụ án: con dao là công cụ gây án đã vứt xuống mương nước, cơ quan điều tra truy tìm nhưng không thấy. Chìa khóa không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi, là trẻ em nên được miễn án phí hình sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Đại diện theo pháp luật của bị cáo có trách nhiệm bồi thường nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng c khoản 3 Điều 134 (tương ứng điểm a khoản 1 điều 134 Bộ luật Hình sự), điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 91, khoản 2 Điều 101; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Lê Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Xử phạt Lê Văn S 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lê Văn S cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự, hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 178/LC-CSĐT ngày 26/3/2024 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 398/QĐ-CSĐT ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Công an thị xã Q đối với bị cáo Lê Văn S.

Áp dụng khoản 2 điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, khoản 2 Điều 586, Điều 587, 589 Bộ luật Dân sự, buộc người đại diện theo pháp luật của bị cáo là ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị H bồi thường thiệt hại cho bị hại Trần Tuấn A số tiền 80.000.000đồng (tám mươi triệu đồng), đã bồi thường 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng), còn phải bồi thường 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng).

Trả cho anh Trần Tuấn A số tiền 40.000.000đồng (bốn mươi triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0003181 ngày 15/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và khi có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại điều 357, điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 chìa khóa, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên.

Áp dụng điều 136, điều 331, điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo; buộc ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thu H3 phải nộp 1.500.000đồng(một triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bào chữa, người đại diện theo pháp luật của bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Đình Thế Vũ Khắc H4

Đỗ Thị D1

7

Nơi nhận:

  • - VKS; CA TX Quảng Yên
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh
  • - THA dân sự TX Quảng Yên
  • - THA hình sự TX Quảng Yên
  • - Bị cáo, người ĐDHP của bị cáo
  • - Bị hại, người bào chữa
  • - Lưu

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HSST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 85/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Sáu- cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger