Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒA BÌNH

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24/7/2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn, con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Tào Ngọc Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Liêu Tài Ngoánh
  2. Ông Huỳnh Tài Em

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dư - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trần Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 159/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXX- ST ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 52/QĐ-HPT ngày 08/7/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Phạm Ngọc Anh Q, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp thị Trấn A, TT Hòa Bình, huyện HB, Bạc Liêu.

- Bị đơn: Ngô Đức L, sinh năm 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp thị Trấn A, TT Hòa Bình, huyện HB, Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 08/4/2024 và lời khai trong quá trình tổ tụng nguyên đơn chị Phạm Ngọc Anh Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị với anh Ngô Đức L xây dựng hôn nhân vào năm 2006 có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn theo quy định. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng sống không hợp nhau nên thường xuyên cãi vã nhau và đã sống ly thân với nhau từ năm 2022 cho đến nay. Nay xét thấy, tình cảm vợ chồng chị không thể tiếp tục sống chung nữa, vì vậy chị yêu cầu ly hôn với anh L.

Về con chung: Chị với anh Ngô Đức L có 03 người con chung tên là: Ngô Bảo A, sinh năm 2007, Ngô Bảo Ng, sinh năm 2012, Ngô Bảo Tr, sinh năm 2005 hiện đang ở với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Q xác định trong quá trình chung sống vợ chồng chị không có nên không yêu cầu giải quyết.

Anh Ngô Đức L không có lời trình bày tại Toà án, đồng thời bản thân anh L cũng không có cung cấp cho Toà án tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu của chị Q theo quy định của pháp luật. Mặc dù anh Lợi đã được Toà án giao thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về việc thu thập, tài liệu chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập đến phiên tòa và quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, anh L vắng mặt không đến tham gia tố tụng và các phiên họp, phiên tòa và không trình bày ý kiến gì.

Ý kiến của kiểm sát viên:

Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý cho đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng quy định pháp luật.

Về nội dung đề xuất: Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đinh năm 2014; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  • Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Ngọc Anh Q và anh Ngô Đức L.
  • Về con chung: Giao Ngô Bảo A, sinh năm 2007, Ngô Bảo Ng, sinh năm 2012, Ngô Bảo Tr, sinh năm 2005 cho chị Phạm Thị Ngọc Q tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục.
  • Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không đặt ra xem xét.
  • Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Q phải chịu 300.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn là chị Phạm Ngọc Anh Q và bị đơn anh Ngô Đức L, địa chỉ ấp thị trấn A, thị Trấn Hòa Bình, huyện HB, tỉnh BL theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện HB, tỉnh Bạc Liêu.

Tại phiên toà, chị Phạm Ngọc Anh Q có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Ngô Đức L được Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình tống đạt văn bản tố tụng, triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Ngọc Anh Q và bị đơn anh Ngô Đức L xây dựng hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định nên hôn nhân giữa chị Q và anh L là hợp pháp được Luật hôn nhân và gia đình bảo vệ.

Xét về nguyên nhân, chị Q cho rằng trong quá trình chung sống với anh Lợi là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, sống không hợp nhau thường xuyên cãi nhau và hiện tại vợ chồng chị không còn chung sống với nhau, nay chị xét thấy, tình cảm giữa chị với anh L không thể tiếp tục sống chung được nữa nên chị yêu cầu được ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân bền vững thì phải dựa trên cơ sở tự nguyện; vợ chồng phải biết thương yêu, quý trọng, chăm sóc, lẫn nhau, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống vợ chồng chị không biết tôn trọng nhau để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc mà thường xuyên cãi nhau và hiện tại không còn chung sống với nhau và cũng không có liên lạc để hàn gắn tình cảm vợ chồng; điều này cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị và anh L đã có xảy ra mâu thuẫn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Quyên.

[3] Về quan hệ con chung: Chị Q xác định quá trình chung sống với anh L có 03 người con chung tên là Ngô Bảo A, sinh ngày 13/8/2007, Ngô Bảo Ng, sinh ngày 13/3/2012, Ngô Bảo Tr, sinh ngày 03/9/2005. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại các cháu đang sống với chị Q và cháu cũng có nguyện vọng ở với mẹ nên giao các cháu A, Ng, Tr cho chị Q tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Anh Ngô Đức L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

[4] Về cấp dưỡng: Chị Q không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Q xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí: Chị Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích, nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Ngọc Anh Q và anh Ngô Đức L, xử cho ly hôn giữa chị Phạm Ngọc Anh Q và anh Ngô Đức L.
  2. Về con chung: Giao cháu Ngô Bảo A, sinh ngày 13/8/2007, Ngô Bảo Ng, sinh ngày 13/3/2012, Ngô Bảo Tr, sinh ngày 03/9/2005 cho chị Quyên tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị Q không yêu cầu. Anh L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Chị Phạm Ngọc Anh Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị Q đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005456 ngày 13/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí.
  4. Án xử sơ thẩm công khai, các đương vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND huyện Hòa Bình;
  • - UBND nơi đăng ký;
  • - Chi cục THADS huyện Hòa Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tào Ngọc Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, con chung

  • Số bản án: 85/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Ngọc Anh Q và anh Ngô Đức L, xử cho ly hôn giữa chị Phạm Ngọc Anh Q và anh Ngô Đức L. 2. Về con chung: Giao cháu Ngô Bảo A, sinh ngày 13/8/2007, Ngô Bảo Ng, sinh ngày 13/3/2012, Ngô Bảo Tr, sinh ngày 03/9/2005 cho chị Quyên tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị Q không yêu cầu. Anh L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. 3. Về án phí: Chị Phạm Ngọc Anh Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị Q đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005456 ngày 13/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger