Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 85/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24 - 7 - 2024

Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Bình

2. Ông Nguyễn Thanh Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 122/2024/TLST-HNGĐ, ngày 28 tháng 3 năm 2024; về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 102/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Tư U, sinh năm 1990; nơi cư trú: Tổ A, thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Chổ ở hiện nay: Đường số C, Ấp C, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Lê Hoàng T, sinh năm 1986; nơi cư trú: Tổ A, thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; vắng mặt bị đơn không có lý do chính đáng cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo hồ sơ vụ án nguyên đơn trình bày:

Chị Lê Thị Tư U, anh Lê Hoàng T tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào năm 2009, tại UBND xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn chị U, anh T chung sống hạnh phúc được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T không lo làm ăn, ham chơi, cờ bạc, rượu chè. Chị U đã nhiều lần khuyên bảo, động viên để anh T thay đổi chăm lo làm ăn, lo cho vợ con, gia đình nhưng không có kết quả. Từ đó chị U, anh T thường xuyên xảy ra cải vả, chưởi bới, xúc phạm nhau. Thời gian đầu vì thương con và muốn giữ gìn hạnh phúc gia đình nên chị U đã bỏ qua. Tuy nhiên, sau này anh T vẫn không thay đổi được, xung đột vợ chồng ngày càng căng thẳng. Nên vào tháng 8/2023 chị U đã bỏ về nhà cha mẹ ruột tại ấp C, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai sinh sống cho đến nay; từ đó chị U, anh T ly thân và không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc hay liên lạc gì nhau. Do cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hiện nay chị U không còn tình cảm với anh T nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Chị U không yêu cầu Toà án giải quyết về con chung, về tài sản chung, nợ chung.

Đối với bị đơn anh Lê Hoàng T:

Sau khi thụ lý vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập nhưng đều không có ý kiến gửi Tòa án, cũng không tham gia làm việc. Do đó, tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại biên bản xác minh ngày 11/6/2024 thể hiện:

Anh Lê Hoàng T, chị Lê Thị Tư U kết hôn và chung sống với nhau hơn 10 năm nay và có hai người con. Cuộc sống vợ chồng mâu thuẫn chủ yếu do anh T cờ bạc, gia đình đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh T vẫn không thay đổi.

Tại thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư công an xã Đ, huyện Đ cung cấp thể hiện:

Anh Lê Hoàng T, sinh năm 1986; hiện thường trú và sinh sống tại tổ A, thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh:

  • - Về tố tụng:
  • + Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
  • + Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
  • + Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự.
  • - Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Lê Thị Tư U được ly hôn với anh Lê Hoàng T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bị đơn anh Lê Hoàng T hiện thường trú tại huyện Đ, tỉnh Bình Thuận nên việc khởi kiện của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Chị Lê Thị Tư U khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, với anh Lê Hoàng T nên quan hệ pháp luật cần giải quyết là “Ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt bị đơn anh Lê Hoàng T không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, cũng không có lý do chính đáng. Vắng mặt nguyên đơn chị Lê Thị Tư U nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa là phù hợp.

[4] Chị Lê Thị Tư Tư U, anh Lê Hoàng T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 07/12/2009, số vào số 83, quyển số 01/2009 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Sau khi kết hôn chị U, anh T chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Mặc dù đã được hai bên gia đình nhiều lần khuyên bảo, động viên nhau nhưng vẫn không có kết quả. Nên cả hai đã ly thân từ tháng 8 năm 2023 cho đến nay, từ đó không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc gì nhau; chị U thừa nhận hiện nay không còn tình cảm với anh T. Bản thân anh T, sau khi thụ lý vụ án mặc dù Tòa án đã nhiều lần tổ chức phiên họp, hòa giải đoàn tụ để các bên quay về chung sống với nhau nhưng không tham gia, không có ý kiến, điều đó chứng tỏ anh T cũng không còn tha thiết gì cuộc sống hôn nhân với chị U. Nên có cơ sở xác định mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị U, anh T đã kéo dài và trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó nếu có tiếp tục chung sống sẽ không tạo dựng được hạnh phúc mà mâu thuẫn sẽ lại càng nghiêm trọng hơn. Nên, cần xử cho chị U được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Các bên không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết về con chung, tài sản chung, nợ chung nên không xem xét.

[6] Chị U phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

[7] Các đương sự đều có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 146, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Tư U.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Tư U được ly hôn với anh Lê Hoàng T.
  2. Giấy chứng nhận kết hôn đăng ký ngày 07/12/2009, số vào số 83, quyển số 01/2009 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

  3. Về án phí: Chị Lê Thị Tư U phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai số 004349, ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Chị U đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.
  5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - UBND xã Xuân Thành, huyện Xuân Lộc Tỉnh Đồng Nai;
  • - C.C Thi hành án DS.h. Đức Linh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Trần Đình Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn

  • Số bản án: 85/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Tư Uyên-Lê Hoàng Thái
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger