Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Hà

Bản án số: 85/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24 - 4 - 2024

V/v "tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tho.

Các Hội thẩm nhân dân.

1. Bà Trương Thị Kim Tiến;

2. Ông Nguyễn Thanh Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Phụng - là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 199/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024 /QĐXX-ST ngày 15/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2024/QÐST-HNGĐ ngày 04/4/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Nhụy H, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Hồ Thị Nhụy H trình bày:

Bà H và ông Nguyễn Văn K xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Đ, tỉnh Long An vào ngày 28/12/2012. Vợ chồng chung sống hạnh H đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gổ, vợ chồng không thể hàn gắn nên bà khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông K.

Về con chung: Qúa trình chung sống, ông bà có 02 con chung tên Nguyễn Hồ Khánh T, sinh ngày 07/12/2013, Nguyễn Hồ Khánh V, sinh ngày 19/4/2016. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn K vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án và không có ý kiến trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Hồ Thị Nhụy H nộp đơn khởi kiện ly hôn với ông Nguyễn Văn K có địa chỉ cư trú tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An nên căn cứ vào Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về ly hôn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông K tự nguyện tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn ngày 28/12/2012 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Đ, tỉnh Long An nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ phần trình bày của bà H về mâu thuẫn của vợ chồng không thể hàn gắn, hiện không còn sống chung, không quan tâm lo lắng cho nhau, bà H vẫn giữ yêu cầu ly hôn. Ông K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do chứng tỏ ông K không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân với bà H. Qua đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông K là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân của các bên không đạt được, nên căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hồ Thị Nhụy H.

Về con chung: Qúa trình chung sống, ông bà có 02 con chung tên Nguyễn Hồ Khánh T, sinh ngày 07/12/2013, Nguyễn Hồ Khánh V, sinh ngày 19/4/2016. Xét thấy, bà H hiện đang nuôi dưỡng cháu T và cháu V, trên 07 tuổi. Các cháu đều có nguyện vọng sống cùng mẹ. Để đảm bảo cuộc sống ổn định và sự phát triển toàn diện của các con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu T và cháu V cho bà Hồ Thị N H tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu nên ông K không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà H trình bày không có; không yêu cầu giải quyết. Ông K vắng mặt không có ý kiến trình bày về tài sản chung, nợ chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Trường hợp, sau này các đương sự có phát sinh tranh chấp liên quan đến tài sản chung và nợ chung được quyền khởi kiện thành vụ án khác.

[3] Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 18, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Hồ Thị Nhụy H đối với ông Nguyễn Văn K.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Nhụy H được ly hôn với ông Nguyễn Văn K.

Về con chung: Bà Hồ Thị Nhụy H được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Hồ Khánh T, sinh ngày 07/12/2013, Nguyễn Hồ Khánh V, sinh ngày 19/4/2016.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu.

Bên không nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con theo luật định.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về án phí: Bà Hồ Thị Nhụy H phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006333 ngày 27/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa. Bà H đã nộp xong.

Về quyền kháng cáo: Bà Hồ Thị Nhụy H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Văn K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bán án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Uỷ ban nhân dân xã An Ninh Tây, huyện Đức Hòa (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Tho

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 85/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Hồ Thị Nhụy Hà đối với ông Nguyễn Văn Kil.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger