|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O, TP. HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 85/2023/HSST Ngày 23/10/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O- TP HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Bá Ngọc và bà Nguyễn Thị N
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Anh Bích, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh O.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh O, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thọ Thuận, Kiểm sát viên;
Ngày 23 tháng 10 năm 2023, tại: Phòng xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 81/2023/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2023/HSST- QĐTA ngày 11 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Văn P (Tên gọi khác:Không; Giới tính: Nam), sinh năm 1977; ĐKHKTT: Thôn Tri L, xã Tân Ư, huyện Thanh O, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố đẻ: Phạm Văn N đã chết; mẹ đẻ: Nguyễn Thị N sinh năm 1958; Có vợ: Vũ Thị C sinh năm 1977; Có 02 con. Con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2001; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Danh chỉ bản 240/2023, lập ngày 07/7/2023 tại Công an huyện Thanh O, Thành phố Hà Nội.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Ngày 14/12/1998, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh O xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã xóa án tích;
- + Ngày 29/8/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh O xử phạt 12 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc, đã xóa án tích;
- + Ngày 06/12/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Thường T xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù tại bản án số 84/2011/HSST ngày 29/8/2011 của Tòa án nhân dân huyện Thanh O. Hình phạt chung của hai bản án là 48 tháng tù, đã xóa án tích;
- + Ngày 23/4/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Thường T xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã xóa án tích;
- + Ngày 14/5/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh O xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại điểm cầu trực tuyến trại tạm giam số 01 Công an Thành phố Hà Nội, theo lệnh trích xuất của tòa án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1/ Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982
- Trú tại: Thôn Mục X, xã Cao D, huyện Thanh O, Thành phố Hà Nội.
- 2/ Anh Hồ Minh T, sinh năm 1984
- Trú tại: Thôn Quang T, xã Phương T, huyện Thanh O, TP Hà Nội;
- 3/ Bà Lê Thị U, sinh năm 1964
- Trú tại: Thôn Mục X, xã Cao D, huyện Thanh O, TP Hà Nội
- Người làm chứng:
- 1/ Anh Phạm Văn S, sinh năm 1980
- Trú tại: Thôn Tan S, xã Phương T, huyện Thanh O, TP Hà Nội;
- 2/ Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1985
- Trú tại: Thôn Tiên L, xã Dân H, huyện Thanh O, TP Hà Nội.
(Tại phiên tòa những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 28/6/2023, Phạm Văn P sinh năm 1977, trú tại thôn Tri L, xã Tân Ư, huyện Thanh O, thành phố Hà Nội đi xe bus đến khu vực bến xe Giáp Bát thuộc địa phận quận Hoàng H, thành phố Hà Nội tìm mua được của một người đàn ông không quen biết 02 gói ma túy Heroine với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, P về nhà sử dụng một phần số ma túy nêu trên, rồi chia số ma túy còn lại ra làm 04 gói nhỏ ma túy để nhằm mục đích bán kiếm lời.
Khoảng 18 giờ ngày 29/6/2023, Nguyễn Văn T (tên gọi khác Tuấn) sinh năm 1982, trú tại thôn Mục X, xã Cao D, huyện Thanh O điều khiển xe máy Honda Wave biển kiểm soát: 28F2 - 3*** đến nhà Phạm Văn P để mua ma túy về sử dụng, P đồng ý và bảo T đi ra khu vực sân bóng thôn Tri L, xã Tân Ư cách nhà P khoảng 50-60cm. Tại đây P bán cho T 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T điều khiển xe máy đi đến khu vực nghĩa trang thôn Quế S, xã Tân Ư sử dụng một phần số ma túy mua được, phần còn lại T cất giấu trong cốp xe máy. Khi T đi về đến khu vực thôn Thế Hiển, xã Dân H, huyện Thanh O thì bị tổ công tác của Công an huyện Thanh O phối hợp cùng Công an xã Dân H phát hiện nghi vấn, T hành kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn T.
Tang vật, tài sản thu giữ của Nguyễn Văn T:
- - 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy, được niêm phong trong phong bì thư có chữ ký giáp lai của Nguyễn Văn T;
- - 01 xe máy Honda Wave, biển kiểm soát: 28F2 - 3***.
Tại bản kết luận giám định số 4544/KL-KTHS ngày 07/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận (đối với số ma túy thu giữ của Nguyễn Văn T):
- - Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng là ma túy loại Heroin, có khối lượng 0,043 gam.
Khoảng 19 giờ ngày 29/6/2023, Hồ Minh T sinh năm 1984, trú tại thôn Quang T, xã Phương T, huyện Thanh O đi bộ đến nhà của P để mua ma túy về sử dụng. Trên đường đi T có gặp và rủ Nguyễn Sơn L sinh năm 1992, trú tại thôn Trên, xã Bích Hòa, huyện Thanh O, hiện L đang ở trọ ở khu vực xã Phương T, huyện Thanh O đi cùng, L đồng ý nhưng L không biết T đi đâu làm gì. Khi cả hai đến nhà của Phạm Văn P thì L đứng ở ngoài, còn T đi vào trong nhà mua được của P 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cất giấu gói ma túy vào trong túi quần phía trước bên phải, rồi cùng L đi về. Khi T và L về đến khu vực nghĩa trang Chiền Chiện thuộc địa phận xã Phương T thì bị tổ công tác của Công an xã Phương T phát hiện nghi vấn và đưa T, L về Công an xã Phương T. Quá trình làm việc, T tự nguyện giao nộp số ma túy vừa mua được của P cho Công an xã Phương T.
Tang vật thu giữ của Hồ Minh T:
- - 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy, được niêm phong trong phong bì thư có chữ ký giáp lai của Hồ Minh T.
Tại bản kết luận giám định số 4542 ngày 07/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận (đối với số ma túy thu giữ của Hồ Minh T):
- - Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng là ma túy loại Heroin, có khối lượng 0,038 gam.
Trên cơ sở lời khai của Hồ Minh T, Nguyễn Văn T. Ngày 29/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh O T hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn P tại nhà số 9, xóm 6, thôn Tri L, xã Tân Ư, huyện Thanh O. Quá trình khám xét khẩn cấp Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh O thu giữ của Phạm Văn P:
- - 02 gói giấy màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy, được niêm phong trong phong bì thư có chữ ký giáp lai của Phạm Văn P.
Tại bản kết luận giám định số 4543/KL-KTHS ngày 07/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận (đối với số ma túy thu giữ của Phạm Văn P):
- - Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy màu vàng (bên ngoài quấn bằng băng dính màu đen và nilon màu trắng) đều là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng 0,662 gam.
Tại bản Cáo trạng số 79/CT-VKS ngày 29 tháng 9 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh O, TP. Hà Nội truy tố bị cáo Phạm Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quyy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Văn P từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 03 phong bì thư bên trong chứa chất ma túy được hoàn lại sau giám định.
Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền Phạm Văn P thu lời bất chính do bán ma túy cho Nguyễn Văn T, Hồ Minh T là 400.000 đồng.
Về án phí bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
{1} Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai không bị oan, không có ý kiến khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan T hành tố tụng và người T hành tố tụng.
Đối với sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn T hành xét xử vụ án.
{2} Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn P đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 18 giờ ngày 29/6/2023, tại khu vực sân bóng thôn Tri L, xã Tân Ư huyện Thanh O, thành phố Hà Nội, Phạm Văn P bán trái phép cho Nguyễn Văn T 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng, sau khi T sử dụng một phần số ma túy mua được của P thì bị phát hiện bắt quả tang, số ma túy còn lại bị thu giữ là 0,043 gam ma túy Heroine.
Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, tại nhà Phạm Văn P ở thôn Tri L, xã Tân Ư, P bán trái phép cho Hồ Minh T 0,038 gam ma túy Heroine với giá 200.0000 đồng. Ngoài ra quá trình khám xét khẩn cấp tại nhà của P còn thu giữ được 0,662 gam ma túy Heroine.
Tổng số ma túy Phạm Văn P đã tàng trữ trái phép để nhằm mục đích bán kiếm lời là 0,743 gam ma túy Heroine. Đối chiếu với các quy định của pháp luật hình sự, hành vi của Phạm Văn P đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
{3}. Xét tính chất: Đây là vụ án rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội bởi bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích bán cho người khác để kiếm lời, hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm vào chế độ quản lý, sử dụng các chất gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý. Tội phạm còn là nguyên nhân phát sinh thêm nhiều tệ nạn trong xã hội, trực tiếp hủy hoại đến sức khoẻ bản thân người sử dụng và làm thiệt hại đến kinh tế gia đình và xã hội, còn là nguyên nhân lây truyền nhiều loại bệnh xã hội. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy phải có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để trừng trị, răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo ở chỗ quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để cho bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Bị cáo phạm tội 02 lần đây là tình tiết định khung hình phạt nên không áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Quá trình điều tra Phạm Văn P khai nhận mua số ma túy nêu trên của một người đàn ông không quen biết ở khu vực bến xe Giáp Bát thuộc địa phận quận Hoàng H, thành phố Hà Nội với giá 1.000.000 đồng nhưng P không nhớ đặc điểm, không biết địa chỉ cụ thể của người này nên không có căn cứ để xác minh nhân thân, lai lịch đối với người đã bán ma túy cho P. Vì vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh O không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với Hồ Minh T tàng trữ trái phép 0,038 gam ma túy Heroine, Nguyễn Văn T tàng trữ trái phép 0,043 gam ma túy Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân vào ngày 29/6/2023 thì bị phát hiện bắt quả tang. Tuy nhiên số ma túy nêu trên chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngoài ra Hồ Minh T, Nguyễn Văn T không có tiền án, tiền sự về hành vi quy định tại các Điều 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật Hình sự. Ngày 30/8/2023, Công an huyện Thanh O quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T và T về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội là có căn cứ.
Đối với Nguyễn Sơn L là người đi cùng Hồ Minh T đến nhà Phạm Văn P mua ma túy nhưng L không biết việc T đi đến nhà P để mua ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với L là có căn cứ.
Quá trình điều tra xác định bà Lê Thị U (mẹ đẻ của Nguyễn Văn T) sinh năm 1964, trú tại thôn Mục X, xã Cao D, huyện Thanh O là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe máy Honda Wave, biển kiểm soát: 28F2 - 3***. Bà Út không biết T sử dụng chiếc xe máy này để đi mua ma túy nên ngày 30/8/2023, cơ quan điều tra quyết định trả lại chiếc xe máy nêu trên cho bà Út là có căn cứ.
{4} Về vật chứng của vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy 03 phong bì thư bên trong chứa chất ma túy được hoàn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội.
Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền Phạm Văn P thu lời bất chính do bán ma túy cho Nguyễn Văn T, Hồ Minh T là 400.000 đồng.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH;
- Tuyên bố bị cáo: Phạm Văn P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý".
- Áp dụng: Điểm b khoản 2 điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Phạm Văn P 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/6/2023.
- Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố Tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: - 01 (một) phong bì thư bên trong có chứa ma túy được hoàn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội có chữ ký Phạm Văn P. Đ/c Dương Văn Hoàng và giám định viên tại các mép gián;
- 01 (một) phong bì thư bên trong chứa chất ma túy được hoàn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội có chữ ký Hồ Minh T, Đ/c Nguyễn T Tùng và giám định viên tại các mép dán;
- 01 (một) phong bì thư bên trong chứa chất ma túy được hoàn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội có chữ ký của Nguyễn Văn Tuấn (tức T), Đ/c Dương Văn Hoàng và giám định viên tại các mép dán. Theo như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 20/10/2023 giữa chi cục thi hành án và cơ quan điều tra Công an huyện Thanh O, TP Hà Nội.
Buộc bị cáo Phạm Văn P phải nộp số tiền thu lợi bất chính là 400.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án. Bị cáo Phạm Văn P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 23/10/2023. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ NGUYỄN T DŨNG |
Bản án số 85/2023/HSST ngày 23/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O, TP. HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 85/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O, TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma tuý (Phạm Văn P)
