Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 85/2024/HS-ST

Ngày 23 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh; ông Nguyễn Văn Bằng.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Trí – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên tòa: Ông Lâm Hải Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án, Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2024/HSST ngày 31 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

NGUYỄN HOÀNG HUY, sinh năm 1997; nơi sinh: thành phố C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: tổ A, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; cha Nguyễn Trung T, sinh năm 1957 (chết) và mẹ Đinh Thị Thu N, sinh năm 1961; tiền án: không; tiền sự: Ngày 15/01/2024, bị Công an thành phố C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa nộp phạt.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2024 đến nay.

Bị hại:

  1. Em Trần Đại T1, sinh năm 2010; nơi cư trú: tổ F, khóm D, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Người đại diện hợp pháp của bị hại Trần Đại T1: Bà Trương Thị Mỹ N1, sinh năm 1980; nơi cư trú: tổ F, khóm D, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, có mặt.
  2. Em Nguyễn Trọng N2, sinh năm 2009; nơi cư trú: tổ H, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Trọng N2: Ông Nguyễn Khắc N3, sinh năm 1982; nơi cư trú: tổ H, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Đinh Thị Thu N, sinh năm 1961; nơi cư trú: tổ A, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang, có mặt.
  2. Trần Thị Trúc H, sinh năm 1993; nơi cư trú: số A, H, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
  3. Nguyễn Thành T2, sinh năm 1997; nơi cư trú: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Người làm chứng: Trần Thị Phượng A, sinh năm 2004; Nguyễn Thị T3, sinh năm 1953; Nguyễn Hoàng Y, sinh năm 1980, tất cả cùng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 02/04/2024, bị cáo Nguyễn Hoàng H1 điều khiển xe đạp đến tiệm Internet “Ngọc Nữ” thuộc số A đường T, tổ E, khóm C, phường C, thành phố C để chơi game. Trong lúc chơi game, lợi dụng lúc em Trần Đại T1 (sinh ngày 13/4/2010) là người chơi game gần H1 đi vệ sinh, điện thoại vẫn để trên bàn nên H1 đã lén lút lấy trộm điện thoại của T1 cất giấu vào trong túi quần, liền sau đó đem đến tiệm cầm đồ “Thanh Phong" thuộc thành phố C cầm số tiền 500.000 đồng, tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng hết.

Trong quá trình điều tra phát hiện, trước đó khoảng trưa 11 giờ tháng 02/2024 (không xác định rõ ngày), H1 đến tiệm internet “Gia Huy” thuộc tổ D, khóm C, phường C, thành phố C để chơi game và hỏi mượn em Nguyễn Trọng N2 (sinh 14/6/2009) xe đạp để mua thuốc hút. Do biết và thấy H1 thường ngày đến tiệm chơi game, nên N2 đồng ý cho H1 mượn xe đạp. Sau khi mượn xe đạp, H1 tự ra chỗ N2 đậu xe ở phía trước cửa tiệm game lấy xe đạp của N2 chạy hướng lên chợ phường C để mua thuốc. Trên đường đi mua thuốc, do không có xe sử dụng nên H1 nảy sinh ý định chiếm đoạt xe đạp của N2 để làm phương tiện sử dụng hàng ngày, H1 đã điều khiển xe đạp chạy thẳng về nhà và sau đó H1 sử dụng chiếc xe đạp này làm phương tiện để đi trộm điện thoại của Trần Đại T1.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 815/KL-ĐG ngày 05/4/2024; số 893/KL-ĐG ngày 22/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A32, màu đen, có gắn ốp lưng bằng nhựa màu đen, trị giá 1.500.000 đồng; 01 chiếc xe đạp màu đen, đùm sau loại sang líp, đùm trước loại đùm năng lượng, trị giá 1.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Hoàng H1 khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, kết quả định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Các tài sản 01 điện thoại di động và 01 chiếc xe đạp đã trao trả lại cho bị hại T1 và N2, bị cáo H1 đã tác động gia đình bồi thường số tiền 500.000 đồng cho Trần Thị Trúc H (chủ tiệm cầm đồ T).

Tại Cáo trạng số 66/CT-VKSCĐ-HS ngày 31/7/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố Nguyễn Hoàng H1 về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 và điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị hại Nguyễn Trọng N2, người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Trọng N2, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo Nguyễn Hoàng H1, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 173, điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo H1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo H1 chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung, không xem xét giải quyết về phần trách nhiệm dân sự, tài sàn đã trao trả cho các bị hại xong nên không đề cập.

Bị cáo Nguyễn Hoàng H1 không tranh luận gì khác, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Người đại diện hợp pháp của em Trần Đại T1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại N2 và người đại diện hợp pháp của bị hại N2, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng vắng mặt, dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng H1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Bị cáo H1 không nghề nghiệp, để có tiền mua ma túy sử dụng, H1 đã lén lút lấy trộm điện thoại di động của em Trần Đại T1 và lợi dụng sự quen biết với em Nguyễn Trọng N2 nên đã hỏi mượn xe đạp mua thuốc hút xong, rồi chiếm đoạt xe đạp của em N2 để sử dụng. Mặc dù mỗi lần bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt, trị giá các tài sản này dưới 2.000.000 đồng, nhưng do bị cáo H1 còn tiền sự đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, nay tiếp tục vi phạm, nên đã đủ yếu tố cấu thành tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" và "Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 và điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự, mỗi tội danh có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hoàng H1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo H1 về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" và "Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 và điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, phù hợp quy định của pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, bản thân bị cáo nghiện ma túy, không nghề nghiệp, vì muốn có tiền tiêu xài bị cáo đã có hành vi lén lút trộm điện thoại của em T1 đem bán, đồng thời còn lợi dụng sự tin tưởng của em N2 mà chiếm đoạt tài sản xe đạp của bị hại giao cho mượn. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm, mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo biết em T1, em N2 đều dưới 16 tuôi, cho nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, thuộc thành phần lao động nghèo, có trình độ học vấn thấp nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế, đã khắc phục bồi thường thiệt hại, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, các bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung, căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 175 của Bộ luật Hình sự, xét bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng, đối với tài sản xe đạp và điện thoại di động, quá trình điều tra đã trả lại cho các bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về trách nhiệm dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Trúc H (chủ tiệm cầm đồ Thanh Phong mua điện thoại của bị cáo) đã nhận số tiền 500.000 đồng do bị cáo khắc phục hậu quả, không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8] Bị cáo Nguyễn Hoàng H1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng H1 phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173, điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng H1 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự về tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội là 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 04/4/2024.

Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Hoàng H1 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại Trần Đại T1 có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSND thành phố Châu Đốc;
  • - Công an thành phố Châu Đốc;
  • - CQTHAHS Công an Tp. Châu Đốc;
  • - Nhà tạm giữ - Công an Tp.Châu Đốc;
  • - Chi cục THADS Tp.Châu Đốc;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về hình sự: lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 85/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản + Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger