Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 85/2024/HS-ST

Ngày: 23/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Ninh.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Kỹ

Ông Ngô Bá Tiến.

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hùng Hoàng Hiệp – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 58/2024/HSST ngày 06 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Trương Công H, sinh năm: 1987; nơi ĐKHKTT: thôn H, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; giới tính: Nam; trình độ học vấn: lớp 9/12; nghề nghiệp: lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Công H1, sinh năm 1963 và bà Trịnh Thị H2, sinh năm 1965; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ là Lường Thị N, sinh năm 1986 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2010;

    Tiền sự: Không;

    Tiền án: Tại bản án số 19/2018/HSST ngày 04/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xử phạt Trương Công H 07 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/9/2022.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/3/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

    Người bào chữa cho bị cáo Trương Công H: Luật sư Khương Thị Thùy T – Công ty L – Đoàn Luật sư tỉnh B.

  2. Lê Xuân H3, sinh năm: 1988; nơi ĐKHKTT: thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên; giới tính: Nam; trình độ học vấn: lớp 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn K, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1952; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; vợ là Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1988 và có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2015;

    Tiền sự: Không;

    Tiền án: Tại bản án số 27/2018/HSST ngày 20/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xử phạt Lê Xuân H3 06 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2023.

    Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt hành chính số 149/QĐ - XPVPHC ngày 08/11/2016 của Công an huyện K, tỉnh Hưng Yên xử phạt 350.000 đồng về hành vi đánh bạc.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/3/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

    Người bào chữa cho bị cáo Lê Xuân H3: Luật sư Nguyễn Thị Bích P – Công ty L1 – Đoàn Luật sư tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22h30' ngày 18/3/2024, tại Công viên N thuộc khu E, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B (PC04) phối hợp với Công an phường Đ, thành phố B phát hiện bắt quả tang Trương Công H, sinh năm 1987, Hộ khẩu thường trú: thôn H, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định, nơi ở: Phòng 1811, tòa nhà M khu đô thị V, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội có hành vi cất giấu chất tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy và 01 khẩu súng, dạng súng tự chế dài 13,5 cm, trong súng có 01 băng đạn được lắp 02 viên đạn trong người, thu giữ:

Tại túi áo khoác bên phải phía trước của Trương Công H đang mặc 01 túi nilon màu đen, bên trong có 03 túi nilon màu trắng, trong 03 túi nilon đều chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác niêm phong vật chứng vào trong 01 hộp giấy ký hiệu M1.

Tại túi quần bên phải phía trước của Trương Công H đang mặc 01 khẩu súng dài 13,5 cm, trên thân súng có chữ Zokaki M 906 - TD, trong súng có 01 băng đạn được lắp 02 viên đạn. Tổ công tác niêm phong vật chứng vào trong 01 hộp giấy ký hiệu M2 và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H, trước sự chứng kiến của anh Cát Văn Ð, sinh năm 1996, trú tại: thôn N, xã N, huyện G, tỉnh Bắc Ninh và anh Trương Văn T2, sinh năm 1985, trú tại: khu A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ 03 điện thoại di động của H gồm;

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, lắp sim số 0941.930.788.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, lắp sim số 0838.695.477.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, lắp sim số 0974.458.xxx.

Ngày 19/3/2024, Lê Xuân H3, sinh năm 1988, trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B khai nhận hành vi giúp Trương Công H mua bán trái pháp chất ma túy, đồng thời tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, lắp sim số 0986.123.881.

Ngày 19/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (PC04) tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của H tại Phòng 1811, tòa nhà M khu đô thị V, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội; chỗ ở của H3 tại thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Quá trình khám xét lực lượng Công an không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

* Trên cơ sở quyết định trưng cầu giám định chất ma túy của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (PC04), ngày 21/3/2024 Phòng K1 Công an tỉnh B ban hành Kết luận giám định số 773/KL - KTHS, kết luận: Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 hộp giấy ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng là 289,5267 gam; Là ma túy; Loại ma túy Ketamine.

Ketamine là các chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất. *

Trên cơ sở quyết định trưng cầu giám định súng, đạn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (PC04), ngày 01/4/2024 V Bộ C ban hành Kết luận giám định số 2020/KL - KTHS, kết luận:

  • Khẩu súng gửi giám định là súng tự chế lắp, bắn được đạn cỡ 9 x 17 mm, thuộc vũ khí quân dụng, hiện tại súng còn sử dụng để bắn được.
  • 02 viên đạn bằng kim loại cùng dài 24,5 mm gửi giám định là đạn cỡ 9 x 17 mm. Loại đạn cỡ 9 x 17 mm thuộc vũ khí quân dụng.

Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định: Trước ngày 18/3/2024 khoảng 04 đến 05 ngày, Trần Ngọc S1, trú tại: thành phố B, tỉnh Bắc Ninh là bạn xã hội của Lê Xuân H3, sinh năm 1988, trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên, sử dụng số điện thoại 0862.796.xxx gọi vào số điện thoại 0986.123.xxx của H3, hỏi H3 biết chỗ nào mua ma túy giới thiệu cho S1 để S1 mua ma túy về bán kiếm lời, H3 đồng ý. Do biết Trương Công H, sinh năm 1987, Hộ khẩu thường trú: thôn H, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định là người có ma túy để bán nên H3 gọi điện vào số điện thoại 0941.930.xxx của H và nói “em có thằng em S1 ở Bắc Ninh có nhu cầu mua ma túy về Bắc Ninh bán, em cho nó số điện thoại của anh để anh trao đổi mua bán ma túy với nó nhé”. H đồng ý. Sau đó, H3 nhắn tin cho S1 số điện thoại của H. Sau khi nhắn tin cho S1 số điện thoại di động của H, H3 gọi điện cho S1 nói: Anh cho ông anh số điện thoại của em, ông đấy có ma túy đó, hai người liên hệ, trao đổi với nhau.

Ngày 17/3/2024, S1 sử dụng mạng T3 gọi điện hỏi H “có ma túy “Ke” bán cho S1 03 lạng”. H trả lời “có” và báo giá 03 lạng ma túy “Ke”, tức ma túy Ketamine là 130.000.000 đồng. S1 đồng ý mua và hẹn H tối ngày 18/3/2024 mang ma túy “Ke” đến thành phố B, tỉnh Bắc Ninh giao dịch mua bán ma túy. Sau khi thống nhất việc mua bán ma túy với S1, chiều ngày 18/3/2024, H sử dụng mạng T3 gọi vào số điện thoại 0832.612.xxx của Vũ Văn B hỏi mua của B 03 lạng ma túy “Ke”. B đồng ý và báo giá 01 lạng ma túy “Ke” là 33.000.000 đồng. H đồng ý mua và hẹn Bốn gặp nhau tại thành phố N, tỉnh Ninh Bình để giao dịch mua bán ma túy. Sau đó H thuê xe Taxi của người không quen biết đi đến thành phố N, tỉnh Ninh Bình gặp B. Khi gặp nhau B nói: chỉ còn hơn 02 lạng ma túy “Ke” và giá là 69.000.000 đồng. H đồng ý mua. Bốn yêu cầu H chuyển khoản số tiền 69.000.000 đồng mua ma túy vào tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP C1- Chi nhánh T5, tỉnh Ninh Bình mang tên Nguyễn Thị H4, sinh năm 1967, trú tại: số nhà A, đường Đ, khu phố H, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Sau khi H chuyển khoản tiền xong, B đưa cho H 01 túi nilon màu đen, bên trong túi nilon màu đen chứa 03 túi nilon màu trắng, bên trong 03 túi nilon đều chứa ma túy “Ke”. Sau khi bán ma túy cho H, B đi đâu, làm gì H không biết còn H cất giấu túi nilon màu đen chứa ma túy vừa mua được của B vào trong người và sử dụng mạng T3 gọi điện cho S1 báo đã có ma túy “Ke”, đang trên đường về thành phố B, tỉnh Bắc Ninh để giao hàng như thỏa thuận. Nhận điện thoại của H, S1 nói: không quen biết H, H phải cùng H3 mang ma túy đến Bắc Ninh thì S1 mới mua. Thấy S1 nói như vậy, H thuê xe Taxi của người không quen biết đi đến tỉnh Hưng Yên gặp H3, khi đi đến đoạn bờ đê thuộc xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên thì H xuống xe gọi điện bảo H3 thuê xe T4 đi ra bờ đê X để cùng H đến Bắc Ninh bán ma túy cho S1, H3 đồng ý. Khoảng 20 giờ ngày 18/3/2024 H3 đi xe Taxi của người không quen biết đến gặp H. Khi gặp H, H trả tiền xe Taxi H thuê trước đó và lên xe ôtô Taxi do H3 thuê rồi cùng nhau đi về thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Khi xe Taxi chở H và H3 đến khu vực ngã 6, sát tòa nhà V thuộc thành phố B, tỉnh Bắc Ninh thì H trả tiền xe Taxi cùng H3 xuống xe và thông báo vị trí đứng đợi cho S1 biết. Khoảng 10 phút sau, lúc này khoảng 22 giờ 20 phút ngày 18/3/2024 S1 đi xe ôtô (H và H3 không nhớ đặc điểm và biểm kiểm soát của xe) đến địa điểm ngã 6, sát tòa nhà V gặp và đón H, H3 lên xe ôtô, sau đó S1 điều khiển xe ôtô đưa H và H3 đến Công viên N thuộc khu E, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Tại Công viên N, S1 đỗ xe ôtô ở ngoài đường rồi S1, H và H3 cùng đi bộ vào quán nước trong công viên ngồi uống nước. Trong lúc cả 3 đang uống nước, S1 đi ra ngoài nghe điện thoại thì khoảng mấy phút sau, lực lượng Công an tỉnh B đến kiểm tra H và H3 phát hiện, bắt quả tang và thu giữ trên người H ma túy và súng như nêu trên. Khi lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ H, S1 không có mặt ở quán nước, đi ra ngoài gọi điện. Sau đó bỏ đi đâu, làm gì H không biết.

Cơ quan điều tra tiến hành cho H và H3 nhận dạng Trần Ngọc S1; cho H nhận dạng Vũ Văn B qua ảnh màu, H và H3 nhận dạng được S1, B.

* Tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, lắp sim số 0838.695.477 của H: Trong điện thoại không có cuộc gọi đi, đến, tin nhắn liên quan đến ma túy, có đăng ký mở 03 số tài khoản gồm: Tài khoản số 0010420110 tại Ngân hàng M1; số 01042010 tại Ngân hàng V1 và số tài khoản tại Ngân hàng A không nhớ số tài khoản.

* Kiểm tra điện thoại điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, lắp sim số 0974.458.xxx của H: Trong điện thoại không có cuộc gọi đi, đến, tin nhắn liên quan đến ma túy.

* Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, lắp sim số 0941.930.788 của H: Trong điện thoại H lưu số điện thoại 0862.796.xxx của S1 là “quan họ” và lưu số điện thoại 0832.612.xxx của Vũ Văn B là “My tom”. Cuộc gọi đi, đến qua mạng T3, tin nhắn về việc mua ma túy của B và bán ma túy cho S1, H đã xóa không kiểm tra được.

* Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, lắp sim số 0986.123.881 của H3: Trong điện thoại H3 lưu số điện thoại 0334.872.xxx của S1 là “E Sơn BEO”. Cuộc gọi đi, đến qua mạng Telegram, tin nhắn về việc H3 giới thiệu H bán ma túy cho S1, H3 đã xóa không kiểm tra được.

* Xác minh chủ thuê bao số điện thoại 0334.872.xxx, kết quả: Chủ thuê bao mang tên Trần Ngọc S1, sinh ngày 15/02/1993, trú tại: khu C. phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, căn cước công dân số [...] cấp ngày 12/02/2023. Cơ quan điều tra xác minh tại nơi cư trú ngày 10/4/2024, xác định trên địa bàn phường V, thành phố B, có công dân tên Trần Ngọc S1, sinh ngày 15/02/1993, trú tại: khu C, phường V, căn cước công dân số [...] cấp ngày 12/02/2023.

* Xác minh chủ thuê bao số điện thoại 0862.796.xxx, kết quả: Chủ thuê bao mang tên Phan Văn H5, sinh ngày 20/01/1972, trú tại: xóm Y, xã H, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, căn cước công dân số [...] cấp ngày 10/8/2021. Anh Phan Văn H5 khai nhận: không đăng ký, sử dụng số điện thoại 0862.796.xxx, không cho mượn căn cước công dân, không biết Trần Ngọc S1, sinh ngày 15/02/1993, trú tại: khu C. phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh và không mua bán trái phép chất ma túy.

* Xác minh chủ thuê bao số điện thoại 0832.612.xxx, kết quả: Chủ thuê bao mang tên Phạm Duy D, sinh ngày 01/10/1964, trú tại: khu B, phường M, thị xã K, tỉnh Hải Dương, căn cước công dân số [...] cấp ngày 15/4/2021. Anh Phạm Duy D khai nhận: không đăng ký, sử dụng số điện thoại 0832.612.xxx, không cho mượn căn cước công dân, không biết Vũ Văn B ở thành phố N, tỉnh Ninh Bình là ai và không mua bán trái phép chất ma túy.

* Xác minh chủ thuê bao số điện thoại 0916.966.xxx, kết quả: Chủ thuê bao mang tên Nguyễn Thị H4, sinh ngày 19/7/1967, trú tại: khu phố H, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, chứng minh nhân dân số [...] cấp ngày 14/9/2015. Số điện thoại 0916.966.xxx sử dụng để đăng ký số tài khoản 0916.966.967 mang tên Nguyễn Thị H4, số tài khoản 0916.966.967 là tài khoản định danh của số tài khoản 102868201620 mang tên Nguyễn Thị H4 tại Ngân hàng TMCP C1, chi nhánh T5, tỉnh Ninh Bình. Sao kê tài khoản của H4, xác nhận ngày 18/3/2024 Trương Công H chuyển khoản 39.000.000 đồng cho H4 từ tài khoản của H tại Ngân hàng TMCP Q và chuyển khoản 30.000.000 đồng từ tài khoản của H tại Ngân hàng V1.

* Sao kê tài khoản số [...] tại Ngân hàng Q và tài khoản số 01042010 tại Ngân hàng V2 đều mang tên Trương Công H chuyển 69.000.000 đồng ngày 18/3/2023 cho Nguyễn Thị H4.

Về nguồn gốc khẩu súng tự chế dài 13,5 cm thân súng có chữ Zokaki M 906 - TD và 02 viên đạn dài 24,5 mm cỡ đạn 9 x 17 mm, H khai nhận mua của người không quen biết ở trên mạng mục đích để chơi, làm oai cho bản thân.

* Về vật chứng:

  • - 01 túi giấy mẫu vật ma túy còn lại sau giám định đã niêm phong có dấu, chữ ký của Phòng K1 Công an tỉnh B; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, lắp sim số 0941.930.788; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, lắp sim số 0838.695.477; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, lắp sim số 0974.458.xxx của H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, lắp sim số 0986.123.881 của H3, Cơ quan điều tra chuyển Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh để giải quyết theo quy định pháp luật.
  • - 01 Khẩu súng tự chế lắp, bắn được đạn cỡ 9 x 17 mm, súng còn sử dụng để bắn được và 02 viên đạn bằng kim loại cùng dài 24,5 mm là đạn cỡ 9 x 17 mm, Cơ quan điều tra đã chuyển Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bắc Ninh quản lý, bảo quản theo quy định của pháp luật.

Về tài liệu liên quan: 01 USB ghi hình ảnh, âm thanh hỏi cung bị cáo Trương Công H và Lê Xuân H3 chuyển theo hồ sơ vụ án.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Trương Công H và Lê Xuân H3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 66/CT-VKSBN-P1 ngày 31/5/2024 của VKSND tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Trương Công H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo điểm e khoản 3 Điều 251 và khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Lê Xuân H3 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm e khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng theo đúng nội dung cáo trạng đã truy tố đối với từng bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với từng bị cáo. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo trong vụ án đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trương Công H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo điểm e khoản 3 Điều 251 và khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Lê Xuân H3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm e khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

  • - Áp dụng điểm e khoản 3 Điều 251; khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 55; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trương Công H từ 18 đến 19 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy và từ 15 đến 20 tháng tù về tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng. Tổng hợp hình phạt buộc Trương Công H phải chấp hành hình phạt của hai tội từ 19 năm 3 tháng đến 20 năm 8 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/3/2024.
  • - Áp dụng điểm e khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 53; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Xuân H3 từ 16 đến 17 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/3/2024.
  • - Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo và đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS xử lý vật chứng của vụ án theo quy định.

Đối đáp với quan điểm của Viện kiểm sát Luật sư bào chữa cho bị cáo H cho rằng Viện kiểm sát truy tố H về hai tội danh theo cáo trạng là đúng. Tuy vậy bị cáo đã thành khẩn khai báo, tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra nhanh chóng phát hiện xử lý tội phạm nên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; ngoài ra gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và gia đình có công với tổ quốc nên đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Luật sư bào chữa cho bị cáo H3 cho rằng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội mua bán trái phép chất ma túy là đúng với hành vi bị cáo thực hiện. Nhưng gia đình bị cáo là gia đình có công, bị cáo đang nuôi con nhỏ, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò giúp sức nên đề nghị giảm nhẹ hình phạt với mức khởi điểm 12 tháng tù.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp với quan điểm của người bào chữa: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51đối với bị cáo H vì lời bào chữa không có căn cứ; người bào chữa nêu tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS nhưng trong hồ sơ và tại phiên tòa không có căn cứ chứng minh nên không có cơ sở áp dụng.

Các bị cáo nhất trí với nội dung đã được các Luật sư bào chữa, không có ý kiến tranh luận, đối đáp với quan điểm của Viện kiểm sát, các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, vì vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Hồi 22h30' ngày 18/3/2024, tại Công viên N thuộc khu E, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, Công an tỉnh B (PC04) phối hợp với Công an phường Đ, thành phố B phát hiện và bắt quả tang Trương Công H có hành vi mua bán trái phép 289,5267 gam; Là ma túy; Loại ma túy Ketamine. Số ma túy này H mua của Vũ Văn B ở thành phố N, tỉnh Ninh Bình mục đích thông qua sự giới thiệu và cùng Lê Xuân H3 mang đến thành phố B, tỉnh Bắc Ninh bán cho Trần Ngọc S1 với giá 130.000.000 đồng. Khi H và H3 chưa kịp giao ma túy và nhận tiền của S1 thì bị lực lượng Công an tỉnh B phát hiện, bắt quả tang, thu giữ ma túy. Ngoài ra, tại thời điểm này Trương Công H còn có hành vi Tàng trữ trái phép 01 khẩu súng dài 13,5 cm, trên thân súng có chữ Zokaki M 906 - TD, súng bắn được đạn cỡ 9 x 17 mm và 02 viên đạn cỡ 9 x 17 mm, súng còn sử dụng để bắn được là vũ khí quân dụng.

Vì vậy, có đủ căn cứ để xác định bị cáo Trương Công H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy" và “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại điểm e khoản 3 Điều 251 và khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Xuân H3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm e khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội thông qua việc xâm phạm các quy định độc quyền của Nhà nước về quản lý vũ khí quân dụng, đe dọa đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Do vậy, cần phải xử lý các bị cáo nghiêm bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét thấy cần cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định, tương xứng với hành vi từng bị cáo thực hiện để giáo dục, cải tạo về ý thức tuân thủ pháp luật đối với các bị cáo.

[4]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy rằng:

* Về nhân thân và tình tiết tăng nặng:

Bị cáo H và H3 đều đã có tiền án: Tại bản án số 19/2018/HSST ngày 04/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xử phạt Trương Công H 07 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, thuộc loại tội rất nghiêm trọng, đến nay chưa được xóa án tích, lại phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Tại bản án số 27/2018/HSST ngày 20/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xử phạt Lê Xuân H3 06 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, thuộc loại tội rất nghiêm trọng, đến nay chưa được xóa án tích, lại phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm nguy hiểm” về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo H phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” về tội “Tàng trữ vũ khí quân dụng” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

* Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các tình tiết giảm nhẹ theo điểm t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình hình sự mà người bào chữa đề nghị áp dụng đối với các bị cáo không có căn cứ để xem xét áp dụng.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 túi giấy mẫu vật ma túy còn lại sau giám định đã niêm phong có dấu, chữ ký của Phòng K1 Công an tỉnh B, là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 Khẩu súng tự chế lắp, bắn được đạn cỡ 9 x 17 mm, súng còn sử dụng để bắn được và 02 viên đạn bằng kim loại cùng dài 24,5 mm là đạn cỡ 9 x 17 mm là vật chứng của vụ án được giao cho Cơ quan có thẩm quyền quản lý và xử lý theo quy định.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, lắp sim số 0941.930.788 của H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, lắp sim số 0986.123.881 của H3 là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, lắp sim số 0974.458.xxx; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, lắp sim số 0838.695.477 của H, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[7]. Liên quan trong vụ án:

Đối với Trần Ngọc S1, theo H và H3 khai là người đặt mua ma túy của H. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại nơi cư trú, hiện S1 không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì, địa phương và gia đình không biết. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi làm rõ sẽ xử lý sau là đúng quy định.

Đối với Vũ Văn B là người bán ma túy cho H. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại nơi cư trú, hiện B không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì, địa phương và gia đình không biết. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Đối với Nguyễn Thị H4 là người đã nhận tiền chuyển khoản của H, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại nơi cư trú, địa phương xác định: Nguyễn Thị H4 cùng gia đình vào thành phố Hồ Chí Minh, hiện không rõ ở địa chỉ nào. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi làm rõ sẽ xử lý sau là đúng pháp luật.

Đối với Phan Văn H5 chủ thuê bao số điện thoại 0862.796.xxx và Phạm Duy D chủ thuê bao số điện thoại 0832.612.xxx đều khai nhận không đăng ký, sử dụng số điện thoại trên, không cho mượn căn cước công dân, không biết Trần Ngọc S1, Vũ Văn B và không mua bán trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Đối với người bán 01 khẩu súng và 02 viên đạn cho H trên mạng xã hội, do H không biết họ tên, lai lịch, địa chỉ, nên chưa có căn cứ làm rõ. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với xe ôtô mà Trần Ngọc S1 đã sử dụng làm phương tiện chở H và H3 từ khu ngã 6 sát tòa nhà V thuộc thành phố B về Công viên N thuộc khu E, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, H và H3 không nhớ xe ôtô nhãn hiệu gì, biển kiểm soát bao nhiêu, nên chưa có căn cứ để xác minh. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Trương Công H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; bị cáo Lê Xuân H3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Áp dụng điểm e khoản 3 Điều 251; khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 53; Điều 17; Điều 58; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Xử phạt bị cáo Trương Công H: 18 năm 3 tháng ( Mười tám năm ba tháng) tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 1 năm 3 tháng ( Một năm ba tháng tù) tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trương Công H phải chấp hành hình phạt cho cả hai tội là 19 năm 6 tháng (M chín năm sáu tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 19/3/2024. Tạm giam bị cáo Trương Công H 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.

    Áp dụng điểm e khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 53; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Xử phạt bị cáo Lê Xuân H3: 16 năm 6 tháng (M sáu năm sáu tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 19/3/2024. Tạm giam bị cáo Lê Xuân H3 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.

  2. Về vật chứng:

    Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS:

    Tịch thu tiêu hủy 01 túi giấy mẫu vật ma túy còn lại sau giám định đã niêm phong có dấu, chữ ký của Phòng K1 Công an tỉnh B; Giao cho Bộ quản lý 01 Khẩu súng tự chế lắp, bắn được đạn cỡ 9 x 17 mm, súng còn sử dụng để bắn được và 02 viên đạn bằng kim loại cùng dài 24,5 mm là đạn cỡ 9 x 17 mm.

    Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 lắp sim số 0941.930.788 của Trương Công H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, lắp sim số 0986.123.881 của Lê Xuân H3.

    Trả lại cho bị cáo Trương Công H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, lắp sim số 0838695477 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, lắp sim số 0974.458.xxx nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

  3. Về án phí: Các bị cáo Trương Công HLê Xuân H3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - CQCSĐT (PC 02)- PV 27 CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng PC 10 - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại Tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bộ chỉ huy QS tỉnh;
  • - Bị cáo; người TGTT khác;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Xuân Ninh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng

  • Số bản án: 85/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Trương Công H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; bị cáo Lê Xuân H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger