|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ TỈNH BẾN TRE Bản án số: 85/2024/HNGĐ - ST Ngày: 23/7/2024 V/v: “Ly hôn”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ - TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Hùng.
Ông Lê Mộng Linh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Xuyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mai Ly – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạnh Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 197/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị T, sinh năm: 1990; Địa chỉ: ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang (có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Khắc Đ, sinh năm: 1990; Địa chỉ: Số nhà B, ấp Q, xã H, huyện T, tỉnh Bến Tre (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình tố tụng tại tòa án và tại phiên tòa – nguyên đơn chị Huỳnh Thị T trình bày:
Chị và anh Nguyễn Khắc Đ kết hôn vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang là hôn nhân tự nguyện. Trong thời gian chung sống giữa chị và anh Đ có sinh được 02 con chung tên Nguyễn Huỳnh Ái V, sinh ngày 20/9/2012 và Nguyễn Huỳnh Thị Ngọc T1, sinh ngày 17/6/2019. Tài sản chung và nợ chung không có.
Thời gian đầu chị và anh Đ chung sống hạnh phúc, sau đó thường xuyên xảy ra bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, làm cho mục đích hôn nhân không đạt được. Chị và anh Đ đã sống ly thân với nhau từ tháng 11/2023 đến nay, tình cảm vợ chồng hàn gắn lại được.
Nên nay, về hôn nhân chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Khắc Đ, không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn. Về con chung tên Nguyễn Huỳnh Ái V, sinh ngày 20/9/2012 và Nguyễn Huỳnh Thị Ngọc T1, sinh ngày 17/6/2019. Khi ly hôn chị có yêu cầu được nuôi 02 con chung. Trước đó, khi làm đơn khởi kiện chị có yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.500.000 đồng/01 con chung, cấp dưỡng cho đến khi 02 con chung tròn 18 tuổi. Nay về mức cấp dưỡng nuôi con chị có thay đổi yêu cầu đó là chỉ yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng/01 con chung, cấp dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Về tài sản chung và nợ chung không có, nên chị không yêu cầu giải quyết.
Theo nội dung bản tự khai, trong quá trình tố tụng tại tòa án và tại phiên tòa – bị đơn anh Nguyễn Khắc Đ trình bày:
Anh và vợ anh là chị Huỳnh Thị T tự nguyện tìm hiểu với nhau. Vào năm 2011 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2024 có phát sinh mâu thuẫn cải nhau. Lúc trước hai bên gia đình có nhắc nhở và vợ chồng anh đã hòa thuận. Nhưng thời gian sau anh liên lạc thì chị T không bắt máy, bên gia đình chị T nói chị T đi làm nên không nghe máy được. Anh nhận biết mâu thuẫn không đáng kể không đến mức ly hôn. Đến khi anh nhận được thông báo của Tòa án nhân dân huyện huyện Thạnh Phú gửi kèm theo đơn khởi kiện của chị T thì anh mới biết được chị T đã làm đơn ly hôn, cả anh và hai bên gia đình đều không biết trước đó. Anh muốn vợ chồng hàn gắn, lo cho con.
Nên nay chị T có yêu cầu ly hôn với anh thì anh không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T. Còn trong trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn, anh không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn. Về con chung tên Nguyễn Huỳnh Ái V, sinh ngày 20/9/2012 anh đồng ý giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Còn con chung tên Nguyễn Huỳnh Thị Ngọc T1, sinh ngày 17/6/2019, anh yêu cầu được nuôi con chung, việc cấp dưỡng nuôi con sẽ theo quy định của pháp luật. Còn nếu Tòa giải quyết giao cả hai con chung cho chị T nuôi dưỡng thì anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng/01 con chung, cấp dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Về tài sản chung và nợ chung không có nên anh không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ quy định Bộ luật tố tụng dân sự; Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ theo đúng thủ tục tố tụng. Người tham gia tố tụng là nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng quy định pháp luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000; các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị T, chị T được ly hôn với anh Nguyễn Khắc Đ. Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn, chị T và anh Đ không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về con chung: chị T được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Huỳnh Ái V, sinh ngày 20/9/2012 và Nguyễn Huỳnh Thị Ngọc T1, sinh ngày 17/6/2019. Anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng/01 con chung cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Về tài sản chung và nợ chung chị T và anh Đ trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Huỳnh Thị T có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Khắc Đ. Bị đơn anh Nguyễn Khắc Đ có nơi cư trú tại ấp Q, xã H, huyện T, tỉnh Bến Tre nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì xác định đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
[2] Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị T và anh Nguyễn Khắc Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang, được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 19/8/2011 theo đúng quy định của pháp luật về điều kiện và thủ tục kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian sống chung, giữa chị T và anh Đ thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng giữa chị T và anh Đ không còn hạnh phúc, chị T và anh Đ đã sống ly thân từ tháng 11/2023 đến nay, tình cảm vợ chồng vẫn không hàn gắn lại được. Bên cạnh đó, qua xác minh đối với ông Trần Văn P là cậu ruột của chị T thì ông P cũng cho rằng trong thời gian chị T và anh Đ sống chung với nhau thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải nhau, không có hạnh phúc do anh Đ không có công việc ổn định, không lo làm ăn, thường xuyên nhậu sau đó gây rối với chị T. Lẽ đó, có căn cứ cho thấy trong thời gian sống chung giữa chị T và anh Đ đã xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, từ lúc chị T yêu cầu ly hôn đến nay, tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh Đ không hàn gắn lại được, điều này chứng tỏ cuộc sống hôn nhân giữa chị T và anh Đ đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặc dù, bị đơn anh Đ không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của nguyên đơn chị T, nhưng không đưa ra được phương án khắc phục mâu thuẫn cũng như biện pháp cải thiện tình cảm vợ chồng, nguyên đơn chị T cũng không đồng ý đoàn tụ với anh Đ. Thấy rằng, nếu tiếp tục cuộc sống hôn nhân sẽ không hạnh phúc và không đạt được mục đích. Nên nay chị T có yêu cầu được ly hôn với anh Đ là có căn cứ phù hợp quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi ly hôn, chị T và anh Đ đều không yêu cầu về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
[3] Về con chung: Chị T và anh Đ trình bày trong thời gian sống chung giữa chị T và anh Đ có sinh được 02 con chung tên Nguyễn Huỳnh Ái V, sinh ngày 20/9/2012 và Nguyễn Huỳnh Thị Ngọc T1, sinh ngày 17/6/2019. Hiện nay cả cháu V và cháu T1 đều đang ở cùng chị T. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà chị T và anh Đ đều thống nhất giao cháu Nguyễn Huỳnh Ái V, sinh ngày 20/9/2012 cho chị T trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Đồng thời cháu V cũng có nguyện vọng được sống cùng với mẹ. Xét thấy, sự thoả thuận về người trực tiếp nuôi con chung của các đương sự là tự nguyện, đúng quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với nguyện vọng của con chung nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, chị T được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Huỳnh Ái V, sinh ngày 20/9/2012.
Khi ly hôn, chị T và anh Đ đều có nguyện vọng được nuôi con chung là Nguyễn Huỳnh Thị Ngọc T1, sinh ngày 17/6/2019. Xét điều kiện kinh tế, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của chị T và anh Đ thì chị T cung cấp 01 Phiếu tính lương có nội dung thể hiện là hiện nay chị đang làm công nhân lắp ráp, thu nhập thực lãnh hàng tháng khoảng 7.117.643 đồng; anh Đ có cung cấp 01 Văn bản kê khai công việc ngày 19/5/2024 có nội dung “...Hiện tại tôi đang sống và làm việc tại địa phương, công việc ổn định, hiện nay đang theo và làm việc cho chủ thầu xây dựng, công việc hiện tại xây nhà ở, tiền chế, cầu đường, xây chuồn trại chăn nuôi ... thu nhập bình quân: 200 – 250 ngàn (ngày) ước tính thu nhập từ 5tr – 6tr (đồng)...” có xác nhận của chủ thầu xây dựng là anh Nguyễn Quốc N cùng với 01 Văn bản kê khai công việc ngày 19/5/2024 có nội dung “... thu nhập trồng cây (dừa) mức doanh thu hàng tháng, được mua bán cho chủ dựa thu mua bình quân hàng tháng từ 200 – 400 dừa ... thu nhập hàng tháng từ 1 triệu đến 3 triệu đồng...” có xác nhận của chủ thu mua là anh Dương Văn L. Chứng tỏ cả chị T và anh Đ đều có công việc, thu nhập, nơi ở ổn định. Tuy nhiên, hiện cháu T1 mới chỉ có 5 tuổi, cần điều kiện chăm sóc, giáo dục, cần sự quan tâm của mẹ nhiều hơn, đồng thời cả cháu V và cháu T1 hiện nay đều đang ở cùng chị T, sinh sống ổn định, cháu T1 vẫn phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy việc giao cháu T1 cho chị T được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp, nên chấp nhận yêu cầu của chị T về việc chị T được nuôi con chung tên Nguyễn Huỳnh Thị Ngọc T1, sinh ngày 17/6/2019.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại tòa, chị T có yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng/01 con chung, cấp dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Anh Đ đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng/01 con chung cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Xét thấy đây là sự tự nguyện của các đương sự về mức cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử ghi nhận việc anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng/1 con chung/tháng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên Bản án sơ thẩm 23/7/2024.
[5] Về tài sản chung: Chị T và anh Đ trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
[6] Về nợ chung: Chị T và anh Đ trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng theo quy định tại Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Khắc Đ phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 177, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 115, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình.
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị T đối với anh Nguyễn Khắc Đ. Chị Huỳnh Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Khắc Đ.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn không đặt vấn đề xem xét giải quyết do không có yêu cầu.
- Về con chung: Chị T được trực tiếp nuôi 02 con chung tên Nguyễn Huỳnh Ái V, sinh ngày 20/9/2012 (theo nguyện vọng của cháu Ái V) và Nguyễn Huỳnh Thị Ngọc T1, sinh ngày 17/6/2019. Anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng/1 con chung/1 tháng, cấp dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên Bản án sơ thẩm ngày 23/7/2024.
Sau khi ly hôn cha, mẹ người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên. Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị T và anh Đ trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Chị T và anh Đ trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000229 ngày 15/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Như vậy án phí chị T đã nộp xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Khắc Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Thị Thủy Tiên |
Bản án số 85/2024/HNGĐ - ST ngày 23/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE về ly hôn
- Số bản án: 85/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Thoảng
