| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2024/HSST | |
| Ngày: 23/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Lan Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Huệ
Bà Nguyễn Thị Chi
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Út – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 04 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST-HS ngày 08/05/2024, đối với bị cáo:
Hoàng Việt A; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh năm 1985, tại: tỉnh Đồng Nai.
Hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo.
Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không.
Con ông: Hoàng Đức T, sinh năm: 1956; con bà: Đinh Thị T1, sinh năm: 1964.
Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình và chưa có vợ, con.
- Tiền án: Có 05 tiền án:
- + Tại bản án số 137/2006/HSST ngày 23/05/2006, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.
- + Tại bản án số 37/2010/HSPT ngày 08/03/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Tại bản án số 77/2010/HSST ngày 19/11/2010, Tòa án nhân huyện T - tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đồng thời tổng hợp với hình phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 37/2010/HSPT, buộc bị cáo phải chấp hành chung là 05 năm 06 tháng tù.
- + Tại bản án số 41/2015/HSST ngày 25/09/2015, Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Tại bản án số 258/2015/HSPT ngày 29/10/2015, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tiền sự: Không.
- Nhân thân:
- + Tại bản án số 37/HSST ngày 29/11/2002, Tòa án nhân dân huyện Định Quán - tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách là 12 tháng.
- + Bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định khởi tố bị can số 123/QĐ-CAH-CQĐT ngày 23/5/2023.
Bị bắt ngày 29/10/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ – Có mặt.
Bị hại:
- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1979.
Địa chỉ: tổ A, ấp N, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. - Anh Ngô Hoàng T2, sinh năm 1996
Địa chỉ: 86, thôn Đ, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. - Anh Làu Nhật P, sinh năm 1996
Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lộc Kim Y, sinh năm 1966
Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. - Bà Vũ Thị L1, sinh năm 1973
Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.
- Người làm chứng: Ông Lê Văn P1, sinh năm 1989.
Địa chỉ: I, C, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bị cáo, bà L1 có mặt; ông L, anh T2, anh P, bà Y vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Việt A đã nhiều lần bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong thời gian chấp hành án tại Trại giam H1 thì Việt A có quen biết với Lê Văn P1 (tên thường gọi là Phương mát, sinh năm 1989, thường trú tại phường A, quận H, thành phố Hồ Chí Minh) cũng bị phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Vào tháng 02 năm 2023, do cần tiền tiêu xài nên Việt A đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại huyện T, tỉnh Đồng Nai, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 07 giờ ngày 24/02/2023, Việt A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha-Nouvo, biển số 71B3-804.28 từ quận F, thành phố Hồ Chí Minh đến xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai với mục đích tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi ngang nhà bà Lộc Kim Y (sinh năm 1966, thường trú tại ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai) do thấy cổng nhà bà Y mở và không có người trông coi nên Việt A chạy xe vào sân nhà. Sau đó, Việt A dựng xe đi vào nhà thì thấy con trai bà Y là anh Làu Nhật P (sinh năm 1996, thường trú tại ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai) đang nằm ngủ trên ghế dài ở phòng khách. Việt A đi ra sân dắt xe mô tô biển số 71B3-804.28 ra ngoài đường và để xe ở vị trí hàng rào trước nhà rồi quay vào nhà bà Y lấy 01 điện thoại di động hiệu Realme của anh P đang để trên bàn ở phòng khách bỏ vào túi quần. Tiếp đó, Việt A dắt xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 60B8-902.79 của anh P đang để tại phòng khách đẩy ra ngoài đường dựng gần vị trí xe mô tô biển số 71B3-804.28. Do xe biển số 60B8 - 092.79 không có chìa khóa nên Việt A quay vào nhà để tiếp tục lấy trộm xe khác. Khi vào nhà, Việt A thấy xe mô tô Honda-AirBlade, biển số 60B7-088.82 (là xe do bà Y mượn của ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1979, thường trú tại tổ A, ấp N, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai) đang cắm sẵn chìa khóa trên xe nên dắt xe ra ngoài dựng cạnh vị trí xe mô tô biển số 71B3-804.28. Việt A mở cốp xe mô tô biển số 60B7-088.82 thì thấy trong cốp xe có 01 cái bóp nên mở bóp ra kiểm tra xem có tài sản gì không để lấy thì chỉ thấy có giấy tờ mà không có tài sản gì nên vứt lại cái bóp trên vào cốp xe. Đồng thời Việt A cũng lấy hết giấy tờ để trong cốp xe mô tô biển số 71B3-804.28 để qua cốp xe mô tô biển số 60B7-088.82. Sau đó Việt A bỏ lại xe mô tô biển số 71B3-804.28 và xe mô tô biển số 60B8 - 092.79 vừa lấy trộm của anh P dựng tại hàng rào trước nhà bà Y rồi điều khiển xe mô tô biển số 60B7-088.82 đi về thành phố Hồ Chí Minh. Việt A đem chiếc điện thoại di động hiệu Realme trộm được của anh P đi bán tại một cửa hàng điện thoại tại tỉnh Bình Dương (không nhớ tên cửa hàng và địa chỉ cụ thể) được 1.000.000 đồng và lấy tiền tiêu xài, còn xe mô tô biển số 60B7-088.82 thì Việt A sử dụng làm phương tiện đi lại.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 08 giờ ngày 26/02/2023, Việt A sử dụng điện thoại có gắn sim số 0902.737.xxx rủ Lê Văn P1 từ thành phố Hồ Chí Minh đến huyện T, tỉnh Đồng Nai trộm cắp tài sản để kiếm tiền tiêu xài thì P1 đồng ý. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, P1 điều khiển xe mô tô biển số 60B7-088.82 chở Việt A đi tìm kiếm tài sản để trộm cắp, khi đi ngang qua nhà anh Ngô Hoàng T2 (sinh năm 1996 thuộc ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai) thì Việt A phát hiện cửa khép hờ không có người trông coi, trong sân có dựng 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda-AirBlade, biển số 60H1-141.46 nên Việt A nói P1 đứng ngoài cảnh giới, còn Việt A đi vào sân nhà anh T2 dắt trộm xe mô tô biển số 60H1-141.46 đẩy ra đường. Do không có chìa khóa mở xe nên Việt A ngồi lên xe mô tô biển số 60H1-141.46, còn P1 điều khiển xe mô tô biển số 60B7-088.82 dùng chân đẩy xe mô tô biển số 60H1-141.46 do Việt A ngồi trên xe điều khiển để tẩu thoát. Khi đi đến đoạn đường B - B thuộc ấp B, xã B, huyện T thì Việt A và P1 bị lực lượng tuần tra Công an xã B phát hiện bắt quả tang, Việt A bỏ chạy thoát còn P1 thì bị bắt giữ cùng tang vật là 02 xe mô tô biển số 60B7-088.82 và 60H1-141.46. Sau đó hành vi nêu trên của Lê Văn P1 đã bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 167 ngày 14/8/2023.
Đến ngày 29/10/2023, Việt A bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T khởi tố, bắt tạm giam. Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Việt A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 88/KL-HĐĐGTS ngày 11/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại AirBlade, biển số 60B7-088.82, màu sơn: Trắng - Đỏ - Đen, xe đã qua sử dụng. Trị giá: 11.000.000 đồng.
- - 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh đã qua sử dụng. Trị giá: 2.500.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản định giá là 13.500.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 147/KL-HĐĐGTS ngày 19/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha-NVX, biển số 60B8-902.79, số máy G3H9E006066, số khung 4510 HY006065, màu: Trắng - Bạc, xe đã qua sử dụng. Trị giá: 23.000.000 đồng
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐGTS ngày 18/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu AirBlade -Honda, biển số 60H1-141.46, số máy JF63E2434789, số khung 63LXKZ007322, xe đã qua sử dụng. Trị giá: 26.000.000 đồng
Vật chứng thu giữ và xử lý:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại AirBlade, biển số 60B7 - 088.82; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda-AirBlade, biển số 60H1-141.46; 01 bóp da (bên trong có chứa: Căn cước công dân, 01 Giấy phép lái xe, 01 thẻ ngân hàng M, 02 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60B7 - 088.82 và 60B6 - 416.73). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn L, anh Ngô Hoàng T2. Riêng xe mô tô biển số 60B8 - 092.79 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xử lý trả lại cho bà Lộc Kim Y (mẹ ruột của Làu Nhật P) giữ, quản lý là phù hợp.
- + Qua tra cứu biển số 71B3 - 804.28 do anh Mai Hoàng Đ (thường trú tại ấp P, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 14/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định ủy thác điều tra đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Bến Tre để làm việc với anh Đ nhưng đến nay chưa có kết quả.
- + Qua tra cứu số khung, số máy xác định thuộc xe mô tô có biển số 93L1 - 118.54 do bà Vũ Thị L1 (sinh năm 1973, thường trú tại thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước) đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc bà L1 trình bày xe mô tô của bà đã bị mất trộm tại quận F, thành phố Hồ Chí Minh.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã tách hồ sơ cùng xe mô tô Yamaha-Nouvo, biển số 71B3-804.28, số khung RLCN1DB10CY058043, số máy 1DB1 058046 để chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận F, thành phố Hồ Chí Minh để xử lý theo thẩm quyền
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Nguyễn Văn L, Ngô Hoàng T2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo Hoàng Việt A phải bồi thường về dân sự nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Riêng bị hại Làu Nhật Phí hiện nay đang đi hợp tác lao động tại Philippines chưa về Việt Nam nên chưa làm việc được về yêu cầu dân sự đối với bị cáo Hoàng Việt A.
Tại Cáo trạng số 69/CT-VKS-P2 ngày 09/04/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Hoàng Việt A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 07 năm tù; về bồi thường dân sự đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cao khai nhận do muốn có tiền tiêu xài nên vào ngày 24/02/2023 đến ngày 26/02/2023, tại nhà bà Lộc Kim Y thuộc ấp T, xã B và nhà anh Ngô Hoàng T2 thuộc ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, lợi dụng sơ hở không có người trông coi, bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp các tài sản gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, biển số 60B7-088.82 của ông Nguyễn Văn L; 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha-NVX, biển số 60B8-902.79 của anh Làu Nhật P (hiện nay đang đi hợp tác lao động tại P); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, biển số 60H1-141.46 của anh Ngô Hoàng T2, có tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 62.500.000 đồng thì bị phát hiện, xử lý.
Do bị cáo chiếm đoạt tài sản có giá trị trên 50.000.000đ và tại bản án số 258/2015/HSPT ngày 29/10/2015, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đã áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” đối với bị cáo, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản do cố ý nên hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng hình phạt là “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo đã nhiều lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không chịu lấy đó làm bài học để rèn luyện, sửa chữa bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo:
Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn hối cải, hầu hết các tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về phần dân sự:
Các bị hại Nguyễn Văn L, Ngô Hoàng T2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Riêng bị hại Làu Nhật Phí hiện nay đang đi hợp tác lao động tại Philippines chưa về Việt Nam. Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 88/KL-HĐĐGTS ngày 11/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh đã qua sử dụng có trị giá 2.500.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo cũng đồng ý bồi thường cho anh P số tiền 2.500.000đ nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại AirBlade, biển số 60B7 - 088.82; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda-AirBlade, biển số 60H1-141.46; 01 bóp da (bên trong có 01 Căn cước công dân, 01 Giấy phép lái xe, 01 thẻ ngân hàng M, 02 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60B7 - 088.82 và 60B6 - 416.73) cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn L, anh Ngô Hoàng T2, riêng xe mô tô biển số 60B8 - 092.79 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho bà Lộc Kim Y (mẹ ruột của Làu Nhật P) giữ, quản lý là phù hợp.
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha-Nouvo, biển số 71B3-804.28, số khung RLCN1DB10CY058043, số máy 1DB1 058046; sau khi tra cứu thể hiện biển số xe không trùng với số khung, số máy. Qua tra cứu biển số 71B3 - 804.28 do anh Mai Hoàng Đ (thường trú tại ấp P, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 14/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định ủy thác điều tra đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Bến Tre để làm việc với anh Đ nhưng đến nay chưa có kết quả. Qua tra cứu số khung, số máy xác định thuộc xe mô tô có biển số 93L1 - 118.54 do bà Vũ Thị L1 (sinh năm 1973, thường trú tại thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước) đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc bà L1 trình bày xe mô tô của bà đã bị mất trộm tại quận F, thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã tách hồ sơ cùng xe mô tô Yamaha-Nouvo, biển số 71B3-804.28, số khung RLCN1DB10CY058043, số máy 1DB1 058046 để chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận F, thành phố Hồ Chí Minh để xử lý theo thẩm quyền là phù hợp.
[6] Về vấn đề khác:
Đối với Lê Văn P1 đã bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 167/2023/HSST ngày 14/8/2023.
[7] Về án phí:
Bị cáo phải nộp 200.000₫ án phí HSST và 300.000₫ án phí DSST theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Việt A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Việt A 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2023.
- Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh L2 Nhật Phí số tiền 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N quy định tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo, chị L1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Lan Hương |
Bản án số 85/2024/HSST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 85/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Hoàng Việt Anh về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự
