Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUY HOÀ

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 85/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 22/8/2024

v/v Tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HOÀ - PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thùy Trân.

  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Nam và bà Đào Thị Ngâm.

  • Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Cao Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Phát - Kiểm sát viên.

Ngày 22/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 138/2024/TLST- HNGĐ ngày 22/4/2024, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/7/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 60/2024/QDST-HNGĐ ngày 05/8/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Phạm Kim T, sinh năm 1966; Có mặt.

  • Trú tại: 0 T, Phường F, thành T, tỉnh Phú Yên.

  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều N, sinh năm 1971; Vắng mặt.

  • Trú tại: 0 T, Phường F, thành T, tỉnh Phú Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn nhận ngày 03 tháng 4 năm 2024, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Phạm Kim T trình bày: Nguyên đơn Phạm Kim T và bị đơn Nguyễn Thị Kiều N tự nguyện tìm hiểu và đi đến đăng ký kết hôn vào năm 1993, tại UBND xã H, huyện T (nay là xã H, huyện T), tỉnh Phú Yên. Sau khi kết hôn một thời gian, vợ chồng có xảy ra nhiều mâu thuẫn từ năm 2023. Do bà N quản lý, chi tiêu tiền bạc không hợp lý, làm ăn tiền bạc không rõ ràng, giấu chồng rồi gây nợ nần. Trước khi bà N bỏ đi đã đòi nguyên đơn vay số tiền 300.000.000 đồng nếu không sẽ tự tử nên nguyên đơn đã vay tại Ngân hàng TMCP N1 đưa cho vợ nhưng bà N không nói là lấy tiền để làm gì. Hàng tháng, nguyên đơn là người trả nợ. Tháng 3/2023, bà N bỏ nhà đi, nguyên đơn đã liên lạc rất nhiều lần nhưng bà N vẫn không nghe điện thoại. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ đó, không ai còn quan tâm đến nhau. Nguyên đơn trình bày thêm, vào năm 2006, bà N có mổ K giáp đến nay đã hết bệnh, không còn ảnh hưởng đến sức khoẻ bản thân và chỉ còn thăm khám định kỳ hàng năm. Việc nguyên đơn xin ly hôn là do mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và không thể kéo dài được. Nên nguyên đơn yêu cầu cương quyết được ly hôn với bị đơn Nguyễn Thị Kiều N.

  • - Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Phạm Thị Ngọc L, sinh năm 1993 và Phạm Nguyễn Mai H, sinh năm 2000. Các con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn Nguyễn Thị Kiều N vắng mặt tại buổi hoà giải ngày 12/7/2024, tuy nhiên có ý kiến trình bày: Thống nhất như nguyên đơn trình bày về quan hệ hôn nhân có đăng ký kết hôn vào năm 1993, đăng ký tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vợ chồng không có mâu thuẫn gì, việc nợ nần là do bị đơn chi tiêu gia đình, xây nhà, con cái học hành, điều trị bệnh K của bị đơn, chồng bị tai nạn, tuy nhiên nợ nần thì vợ chồng sắp xếp trả nợ.

Tại bản trình bày ngày 27/5/2024, bị đơn cho rằng vẫn còn tình cảm vợ chồng nên không đồng ý ly hôn. Bị đơn ý kiến: Bán nhà xong và trả nợ các khoản rồi mới ly dị.

  • - Về con chung: Có hai con chung như nguyên đơn trình bày và các con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

  • - Về tài sản chung: Có nhà đất tại địa chỉ 0 T, Phường F, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Bị đơn yêu cầu bán nhà để chia nhưng không có đủ tiền để đóng án phí. Bị đơn chỉ đồng ý ly hôn nếu giải quyết xong phần tài sản.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa phát biểu:

  • + Về việc tuân theo thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng: Bị đơn vắng mặt dù được triệu tập hợp lệ nên căn cứ vào các Điều 227 và Điều 228 BLTTDS để xét xử vắng mặt đương sự.

  • + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56 và 57 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Phạm Kim T được ly hôn với bị đơn Nguyễn Thị Kiều N. Về con chung: Các con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Tài sản chung và nợ chung: không xét. Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa thụ lý thuộc thẩm quyền.

[2] Về thủ tục giải quyết vắng mặt đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Kim T và bà Nguyễn Thị Kiều N tự nguyện tìm hiểu và đi đến đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã H, huyện T (nay là xã H, huyện T), tỉnh Phú Yên cấp giấy chứng nhận kết hôn số 14, quyển số 07 năm 1993 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

[3.2] Xét thấy: Quá trình chung sống, vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống chung. Việc chi tiêu, quản lý tiền bạc không hợp lý, làm ăn tiền bạc không rõ ràng của bị đơn dẫn đến gây nợ nần nhiều làm cho nguyên đơn bị mất niềm tin vào bị đơn. Vợ chồng không có tiếng nói chung để chia sẻ lẫn nhau từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến hạnh phúc gia đình. Từ năm 2023, hai bên đã sống ly thân nhau cho đến nay, không ai còn sự quan tâm đến nhau.

Xét ý kiến của nguyên đơn về tình hình bệnh của bị đơn bị K giáp được mổ vào năm 2006 đã ổn định và hiện nay phải khám định kỳ là phù hợp với tài liệu do bị đơn cung cấp.

Xét ý kiến của bị đơn vẫn còn tình cảm vợ chồng, chỉ đồng ý ly hôn sau khi bán nhà xong và trả nợ các khoản là nhằm gây khó khăn cho nguyên đơn và kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Toà án đã triệu tập bị đơn nhiều lần để tham gia phiên toà nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Do đó, ý kiến của bị đơn không đồng ý ly hôn là không có cơ sở để xem xét.

Từ những phân tích trên cho thấy, tình trạng hôn nhân của vợ chồng đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nguyên đơn Phạm Kim T yêu cầu được ly hôn với bị đơn Nguyễn Thị Kiều N là chính đáng, có căn cứ. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.

[3.3] Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Phạm Thị Ngọc L, sinh năm 1993 và Phạm Nguyễn Mai H, sinh năm 2000.

Các con chung đã trưởng thành, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

[5] Nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn có vay tại Ngân hàng TMCP N1 – chi nhánh P. Tuy nhiên, Ngân hàng có công văn số 783/VCBPY.PKH ngày 15/7/2024 không khởi kiện trong vụ án ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân & Gia đình năm 2014. Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Kim T;

  • +Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Phạm Kim T được ly hôn với bị đơn Nguyễn Thị Kiều N.

  • +Về con chung: Không xét.

  • + Về tài sản chung, nợ chung: Không xét.

  • + Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002424 ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

  • + Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Phú Yên ;
  • - VKSND Tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND TP. Tuy Hòa;
  • - UBND xã Hoà Phú, H. Tây Hòa;
  • (Đăng ký số 14/1993)
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS TP. Tuy Hòa;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Nam Đào Thị Ngâm

Bùi Thị Thùy Trân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HNGĐ-ST ngày 22/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HOÀ - PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 85/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HOÀ - PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án hn tuyến - nga
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger