TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 85/2024/DS-ST Ngày: 22/4/2024 V/v Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Tiến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hồng Liên
- Ông Nguyễn Tấn Triều
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Sang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Trong ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 645/2023/TLST-DS ngày 02 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:194/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1967. Vắng mặt.
Địa chỉ: A đường C, khu N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lê Thị T1. Vắng mặt
Bị đơn: Bà Nguyễn Kim S, sinh năm 1958. Vắng mặt.
Địa chỉ: A nhà T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn trình bày:
Bà Lê Thị T và bà Nguyễn Kim S có mối quan hệ quen biết. Vào ngày 01/5/2020 bà T cho bà S mượn số tiền 20.000.000 đồng, thỏa thuận mỗi tháng bà S sẽ trả cho bà T 1.000.000 đồng, hai bên có viết giấy mượn nợ. Sau khi trả được 4.500.000 đồng, đến nay còn lại số tiền 15.500.000 đồng bà S không thanh toán. Mặc dù bà T đã nhiều lần liên hệ, nhắc nhở nhưng bà S vẫn cố tình trốn tránh, không chịu thực hiện nghĩa vụ.
Do đó, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều buộc bà Nguyễn Kim S trả lại cho bà số tiền nợ gốc 15.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.
Trong quá trình giải quyết vụ án, dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng bị đơn Nguyễn Kim S luôn vắng mặt không có lý do và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn bà Lê Thị T có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, xem xét toàn diện các chứng cứ; Hội đồng xét xử xét thấy;
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị T khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Kim S trả cho bà số tiền vay là 15.500.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.
Xác định đây là tranh chấp về Hợp đồng vay tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Qua xác minh, bà Nguyễn Kim S hiện đang đăng ký thường trú và sinh sống tại địa quận N, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đối với sự vắng mặt của bị đơn bà Nguyễn Kim S: xét thấy rằng Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bà S, nhưng bà S vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng xem như đã từ bỏ quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nguyên đơn bà T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn theo quy định pháp luật.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện:
Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Tại “Giấy mượn nợ” không ghi ngày, chỉ ghi ngày 21/8/2020 ghi nhận bà S thỏa thuận với bà T vay số tiền 20.000.000 đồng
Bà S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, đầy đủ, nhưng không đến tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến phản bác về yêu cầu khởi kiện của bà T, do đó xem như bà S từ bỏ quyền cung cấp chứng cứ chứng minh và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình.
Bà S đã xác lập một giao dịch dân sự về việc vay tài sản với bà T. Khi xác lập giao dịch này giữa hai bên hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và không vi phạm điều cấm. Thể hiện là giấy biên nhận vay tiền thể hiện đầy đủ nội dung về: số tiền vay, thời hạn trả nợ, các nội dung đều phù hợp với quy định của pháp luật nên đây là giao dịch dân sự hợp pháp. Bà S là người có đủ năng lực trách nhiệm dân sự nên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các giao dịch do mình ký kết.
Xét chứng cứ và giấy vay tiền mà bà T cung cấp cho Tòa thấy có đủ cơ sở xác định việc bà S có vay tiền của bà T, hai bên thỏa thuận thời hạn vay là 20 tháng tính từ 1/8/2020. Tuy nhiên tới thời điểm hiện tại bà S chỉ thanh toán 4.500.000 đồng cho bà T. Nên bà T khởi kiện yêu cầu bà S thanh toán số tiền nợ gốc 15.500.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Kim S vắng mặt không rõ lý do, cũng không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà T. Nên để đảm bảo quyền lợi cho nguyên đơn cần chấp nhận yêu cầu của bà T về việc buộc bà Nguyễn Kim S trả tiền cho bà T.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của bà T được chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Kim S phải chịu 775.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Nguyên đơn bà Lê Thị T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ
Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 470 Bộ luật Dân sự 2015.
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị T đối với bị đơn bà Nguyễn Kim S.
Buộc bị đơn bà Nguyễn Kim S phải trả cho nguyên đơn bà Lê Thị T tổng số tiền là 15.500.000 đồng
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Kim S phải chịu 775.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà Lê Thị T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 387.000 đồng theo biên lai tạm ứng án phí số 0000022 ngày 24/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận :
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Kim Tiến |
Bản án số 85/2024/DS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 85/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Lê Thi T và bà Nguyễn Kim S tranh chấp hợp đồng vay tài sản
